Hướng Dẫn Tính Tiền Lãi Chậm Trả Theo Điều 306 Luật Thương Mại (Qua Thực Tiễn Xét Xử)
Trong các giao dịch thương mại, việc chậm thanh toán là rủi ro thường xuyên xảy ra. Dưới đây là phân tích chi tiết về quyền yêu cầu trả tiền lãi trên khoản tiền chậm trả và cách tính toán thực tế dựa trên quy định pháp luật.
Mục lục:
1. Quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán
Theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005, quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán được xác định như sau:
"Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."
Như vậy, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, bên bị vi phạm hoàn toàn có quyền yêu cầu bên vi phạm phải chịu một khoản tiền lãi cho khoảng thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
2. Thực tiễn áp dụng và cách xác định mức lãi suất
a. Cung cấp lãi suất cho vay USD được Ngân hàng Nhà nước công bố tại website chính thức (sbv.gov.vn) :
Căn cứ theo Bản án số 287 ngày 26/09/2024, Nguyên đơn đã cung cấp Vi bằng ghi nhận mức lãi suất cho vay USD được Ngân hàng Nhà nước công bố tại website chính thức và đã được Hội đồng xét xử đã chấp nhận
Nguyên đơn đã cung cấp Vi bằng số 740/2024/VB-
-
Ngắn hạn: 4,1% - 5,0%/năm.
-
Trung và dài hạn: 6,3% - 7,4%/năm.
-
Mức lãi suất được Tòa án chấp nhận: Dựa trên các dữ liệu trên, mức lãi suất trung bình được Tòa án chấp nhận áp dụng là 6,83%/năm.
-
Thời gian chậm trả: Tính từ ngày bắt đầu vi phạm (31/03/2021) đến ngày xét xử sơ thẩm (26/9/2024), tương đương 1.275 ngày.
b. Cung cấp các văn bản thông báo lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại tại cùng thời điểm xét xử:
Căn cứ theo bản án số 209 ngày 22/08/2024/KDTM-ST ngày 22/08/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Nguyên đơn đã cung cấp 03 Thông báo lãi suất cho vay của các Ngân hàng thương mại tại thời điểm xét xử và đã được Hội đồng xét xử chấp thuận.
Theo các chứng cứ do Nguyên đơn cung cấp liên quan đến lãi suất, Tòa án đã đối chiếu dữ liệu từ 03 ngân hàng khác nhau:
-
Văn bản số 3017/CNTPHCM-TH của Ngân hàng TMCP C (ngày 14/6/2025).
-
Văn bản số 1261/NHNo.TTSG-PC của Ngân hàng N2 (ngày 19/6/2024).
-
Văn bản số 7572/HCM-TH của Ngân hàng N1 (ngày 10/7/2024).
Kết quả thu thập cho thấy, mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của 03 ngân hàng này là 15%/năm. Trong vụ án nêu trên, nguyên đơn chỉ đưa ra yêu cầu tính mức lãi suất là 10%/năm. Xét thấy mức 10%/năm hoàn toàn nằm trong giới hạn hợp pháp và không vượt quá mức lãi suất trung bình trên thị trường (15%/năm) theo đúng quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005, Hội đồng xét xử đã chính thức chấp nhận toàn bộ yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn. Điều này cho thấy sự linh hoạt và tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong các vụ án thương mại, miễn là không vượt quá trần quy định.
Nội dung bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. DB Legal không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin này cho mục đích kinh doanh. Để được tư vấn chuyên sâu cho từng trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ chúng tôi.
Để biết thêm thông tin chi tiết:
Bài viết liên quan:
- Tổng hợp các tranh chấp lao động mà người lao động là người nước ngoài
- Tổng hợp các bản án về tranh chấp Hợp đồng dịch vụ
- Tổng Hợp Bản Án Về Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ (2)
- Tổng Hợp Bản Án Về Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ (1)
- Tổng hợp 05 bản án về tranh chấp Hợp đồng phân phối/đại lý (2)
- Tổng hợp 05 bản án về tranh chấp Hợp đồng phân phối/đại lý
- Án Lệ số 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản
- Án Lệ số 82/2025/AL về xác định tài sản chung của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn
- Án Lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty
- Quyết định số 01/2025/QĐPT-PS ngày 07/01/2025 giải quyết đề nghị xem xét lại đối với quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp
.png)


