Banner

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRUNG TÂM GIÁM SÁT VIDEO TẠI VIỆT NAM

11/02/2026 | Doanh Nghiệp

DB Legal kính gửi khách hàng nội dung liên quan đến thủ tục đăng ký đầu tư lĩnh vực giám sát video tại Việt Nam như sau:

I. Căn cứ pháp lý

- Biểu cam kết cụ thể về Thương Mại và Dịch vụ WTO (GATS);

- Luật Đầu tư số 143/2025/QH15;

- Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020;

- Quyết định số 36/2025/QĐ-TTg ngày 29 tháng 9 năm 2025 Ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam;

- Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 của Quốc hội được sửa đổi, bổ sung;

- Nghị định số 07/2016/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2016 quy định chi tiết Luật Thương mại về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam;

- Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 ngày 26 tháng 6 năm 2025;

- Bộ luật lao động 2019;

II. Phạm vi kinh doanh dịch vụ giám sát video

Trước hết DB Legal sẽ phải làm rõ loại hình dịch vụ kinh doanh của khách hàng. Căn cứ mô tả của bạn, mô hình trung tâm giám sát video mà bạn dự kiến triển khai, doanh nghiệp thực hiện các hoạt động chính bao gồm: 

- Vận hành và giám sát hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống camera và an ninh của khách hàng theo hợp đồng dịch vụ;

- Phân tích hình ảnh/video, phát hiện sự kiện, cảnh báo và báo cáo theo quy trình kỹ thuật đã được khách hàng thiết lập;

- Hoạt động liên tục 24/7 theo ca làmviệc;

- Không cung cấp dịch vụ truyền dẫn tín hiệu viễn thông, không sở hữu hoặc khai thác hạ tầng mạng viễn thông, không thực hiện hoạt động bảo vệ an ninh mang tính can thiệp vật lý.

Về mặt phân loại theo GATS, loại hình hoạt động này không đương nhiên được xếp vào một nhóm duy nhất mà cần xem xét bản chất kỹ thuật và phạm vi dịch vụ thực tế, cụ thể:

- Dịch vụ xử lý dữ liệu (CPC 843);

- Dịch vụ máy tính khác (CPC 849);

Đối với mô hình trung tâm giám sát video hoạt động 24/7 theo hình thức tiếp nhận, xử lý và phản hồi dữ liệu hình ảnh/video được truyền từ hệ thống của khách hàng, có thể xem đây là dịch vụ xử lý dữ liệu và dịch vụ máy tính liên quan, không bao gồm việc cung cấp dịch vụ viễn thông và không phải là dịch vụ bảo vệ, an ninh theo nghĩa pháp lý tại Việt Nam.

Căn cứ theo Biểu cam kết cụ thể về Thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO (GATS), hoạt động nêu trên có thể được phân loại chủ yếu theo dịch vụ xử lý dữ liệu (CPC 843) và trong một số trường hợp có thể bao gồm dịch vụ máy tính khác (CPC 849) thuộc nhóm Dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan (CPC 84).

Theo phân loại của GATS, dịch vụ xử lý dữ liệu (CPC 843) bao gồm các hoạt động tiếp nhận, xử lý, phân tích, lưu trữ và xuất dữ liệu cho khách hàng bằng các hệ thống máy tính, bao gồm cả việc xử lý dữ liệu hình ảnh và video, với điều kiện nhà cung cấp dịch vụ không sở hữu, vận hành hoặc khai thác hạ tầng viễn thông công cộng và không trực tiếp cung cấp dịch vụ truyền dẫn tín hiệu viễn thông.

Trong mô hình này, doanh nghiệp chỉ đóng vai trò là đơn vị vận hành trung tâm xử lý dữ liệu và giám sát kỹ thuật theo quy trình nội bộ của khách hàng; toàn bộ hoạt động truyền dẫn tín hiệu, kết nối mạng và hạ tầng viễn thông được thực hiện thông qua các doanh nghiệp viễn thông đã được cấp phép tại Việt Nam. Do đó, hoạt động của doanh nghiệp không bị xem là dịch vụ viễn thông theo quy định của pháp luật Việt Nam về viễn thông và cũng không thuộc phạm vi điều chỉnh của các cam kết hạn chế tại mã CPC 843 liên quan đến dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng.

III. Khả năng tiếp cận thị trường theo Biểu cam kết GATS và pháp luật đầu tư Việt Nam

Theo Biểu cam kết cụ thể về Thương mại và dịch vụ của Việt Nam trong WTO (GATS), đối với nhóm Dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan (CPC 84) bao gồm dịch vụ xử lý dữ liệu (CPC 843), Việt Nam về cơ bản không hạn chế tiếp cận thị trường và hiện diện thương mại, ngoại trừ các nội dung liên quan đến dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng hoặc dịch vụ gắn trực tiếp với việc cung cấp viễn thông công cộng.

Các hạn chế được ghi nhận trong Biểu cam kết đối với CPC 843 chủ yếu áp dụng trong trường hợp nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trực tiếp cung cấp dịch vụ viễn thông hữu tuyến, di động mặt đất hoặc dịch vụ viễn thông vệ tinh. Trong những trường hợp này, nhà cung cấp nước ngoài phải có thỏa thuận thương mại với pháp nhân viễn thông được thành lập và cấp phép tại Việt Nam. Tuy nhiên, các hạn chế nêu trên không áp dụng đối với mô hình trung tâm xử lý dữ liệu và giám sát video, khi doanh nghiệp không cung cấp dịch vụ viễn thông và chỉ sử dụng dịch vụ viễn thông của các nhà cung cấp được cấp phép tại Việt Nam.

Do đó, xét theo Biểu cam kết GATS, dịch vụ xử lý dữ liệu (CPC 843) và dịch vụ máy tính khác (CPC 849) thuộc nhóm ngành mà Việt Nam cho phép nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường.

Về vấn đề hiện diện thương mại, theo nội dung cam kết, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được thành lập công ty liên doanh (không hạn chế tỷ lệ góp vốn của nước ngoài) và công ty 100% vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ máy tính tại Việt Nam ngay từ khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, trong vòng 02 năm đầu kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, các công ty 100% vốn nước ngoài chỉ được cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đến nay đã qua 02 năm kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO nên hạn chế “chỉ được cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp nước ngoài” đã được gỡ bỏ, do đó nhà đầu tư được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và không bị hạn chế cung cấp dịch vụ bao gồm doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài. Ngoài ra, từ năm 2010, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sẽ được phép hiện diện dưới hình thức chi nhánh với điều kiện trưởng chi nhánh phải là người thường trú tại Việt Nam.

Căn cứ theo Luật Đầu tư năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành, dịch vụ xử lý dữ liệu và dịch vụ máy tính liên quan không thuộc Danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và không thuộc Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài. Trường hợp một ngành dịch vụ không được quy định cụ thể trong Biểu cam kết quốc tế nhưng không bị pháp luật Việt Nam cấm hoặc hạn chế, nhà đầu tư nước ngoài vẫn có thể được xem xét chấp thuận đầu tư theo nguyên tắc quy định tại Luật Đầu tư và Nghị định hướng dẫn.

Trên cơ sở đó, nhà đầu tư nước ngoài có thể lựa chọn thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam để cung cấp dịch vụ trung tâm giám sát video theo mô hình xử lý dữ liệu hoặc hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư phù hợp khác, tùy thuộc vào chiến lược vận hành và mức độ kiểm soát mong muốn.

IV. Đăng ký ngành, nghề kinh doanh tại Việt Nam đối với mô hình trung tâm giám sát video

1. Nguyên tắc xác định ngành, nghề đăng ký

Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2025 và Luật Doanh nghiệp, ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp được xác định căn cứ vào bản chất thực tế của hoạt động cung cấp dịch vụ, không chỉ dựa trên cách gọi thương mại của mô hình kinh doanh. Trong trường hợp mô hình trung tâm giám sát video hoạt động 24/7, doanh nghiệp thực hiện việc tiếp nhận, xử lý, phân tích dữ liệu hình ảnh/video và đưa ra cảnh báo hoặc báo cáo theo quy trình của khách hàng, nhưng không cung cấp dịch vụ truyền dẫn tín hiệu viễn thông, không sở hữu hoặc khai thác hạ tầng mạng viễn thông, và không thực hiện các hoạt động bảo vệ an ninh mang tính can thiệp vật lý, thì hoạt động này được xác định là dịch vụ công nghệ thông tin và xử lý dữ liệu.

Do đó, việc đăng ký ngành, nghề kinh doanh cần được thiết kế theo hướng phản ánh rõ doanh nghiệp chỉ cung cấp dịch vụ xử lý dữ liệu, hỗ trợ vận hành và dịch vụ máy tính liên quan, nhằm tránh bị cơ quan quản lý diễn giải sang nhóm dịch vụ viễn thông hoặc dịch vụ bảo vệ – an ninh, là các lĩnh vực có điều kiện và hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài.

2. Ngành, nghề kinh doanh chính đề xuất

Căn cứ theo Quyết định số 36/2025/QĐ-TTg Ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam

Doanh nghiệp có thể đăng ký ngành, nghề kinh doanh theo mã:

622 - 6220 - 62200: Tư vấn máy tính và quản lý cơ sở hạ tầng máy tính

Nhóm này gồm:

- Hoạt động tư vấn phần cứng, phần mềm và hệ thống máy tính, bao gồm cả hoạt động tư vấn an ninh mạng;

- Hoạt động lập và thiết kế các hệ thống máy tính tích hợp các phần cứng, phần mềm máy tính và công nghệ truyền thông, có hoặc không có các dịch vụ liên quan như cài đặt hệ thống, đào tạo và hỗ trợ người dùng;

- Cung cấp dịch vụ quản lý và vận hành hệ thống máy tính của khách hàng và hoặc công cụ xử lý dữ liệu; các hoạt động chuyên gia và các hoạt động khác có liên quan đến máy tính;

- Giám sát, kiểm tra và phân tích hệ thống mạng và an ninh mạng;

- Hoạt động tư vấn an ninh mạng, tư vấn về yêu cầu phần mềm, phần cứng, tư vấn mua, bán các thành phần phần cứng, phần mềm của hệ thống máy tính. Loại trừ:

- Bán phần cứng hoặc phần mềm máy tính được phân vào nhóm 46510 (Bán buôn máy tính, thiết bị ngoại vi và phần mềm), 47400 (Bán lẻ thiết bị công nghệ thông tin và truyền thông);

- Lắp đặt máy tính lớn và các máy tính tương tự được phân vào nhóm 33200 (lắp đặt máy móc và thiết bị công nghiệp);

- Cài đặt máy tính cá nhân được phân vào nhóm 62900 (Hoạt động dịch vụ máy tính và công nghệ thông tin khác);

- Xuất bản phần mềm được phân vào nhóm 582 (Xuất bản phần mềm);

- Cài đặt phần mềm được phân vào nhóm 62900 (Hoạt động dịch vụ máy tính và công nghệ thông tin khác);

- Khắc phục sự cố máy tính được phân vào nhóm 62900 (Hoạt động dịch vụ máy tính và công nghệ thông tin khác).

V. Yêu cầu về hiện diện thương mại và các phương án triển khai tại Việt Nam

1. Thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam đối với mô hình trung tâm giám sát video

Theo Biểu cam kết cụ thể về Thương mại và dịch vụ của Việt Nam trong WTO (GATS), nhà đầu tư có thể thành lập chi nhánh tại Việt Nam theo Điều 16 Luật Thương mại 2005 và phải đáp ứng đồng thời các điều kiện về thành lập chi nhánh theo Điều 8 Nghị định số 07/2016/NĐ-CP quy định chi tiết về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam như sau:

- Thương nhân nước ngoài được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc được pháp luật các quốc gia, vùng lãnh thổ này công nhận;

- Thương nhân nước ngoài đã hoạt động ít nhất 05 năm, kể từ ngày được thành lập hoặc đăng ký;

- Trong trường hợp Giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài có quy định thời hạn hoạt động thì thời hạn đó phải còn ít nhất là 01 năm tính từ ngày nộp hồ sơ;

- Nội dung hoạt động của Chi nhánh phải phù hợp với cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và phù hợp với ngành nghề kinh doanh của thương nhân nước ngoài;

- Trường hợp nội dung hoạt động của Chi nhánh không phù hợp với cam kết của Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài không thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, việc thành lập Chi nhánh phải được sự chấp thuận của Bộ trưởng Bộ quản lý chuyên ngành.

2. So sánh phương án thành lập pháp nhân tại Việt Nam và phương án thuê ngoài hoạt động

Thuê ngoài hoạt động được hiểu là việc doanh nghiệp nước ngoài ký hợp đồng dịch vụ với một doanh nghiệp Việt Nam độc lập để doanh nghiệp Việt Nam tự tổ chức nhân sự, cơ sở vật chất và vận hành hoạt động theo tiêu chuẩn và kết quả đầu ra đã thỏa thuận, trong khi doanh nghiệp nước ngoài không trực tiếp điều hành, quản lý nhân sự hay thực hiện hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Đây không phải là việc thành lập pháp nhân, chi nhánh hay văn phòng đại diện Việt Nam mà về bản chất là một quan hệ hợp đồng dịch vụ giữa doanh nghiệp nước ngoài và một doanh nghiệp Việt Nam độc lập.

Do không làm phát sinh sự hiện diện thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thuê ngoài hoạt động không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư và không bị xem là một hình thức đầu tư theo các phương thức như thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, mua cổ phần hay thành lập chi nhánh. Theo Biểu cam kết cụ thể về Thương mại và dịch vụ của Việt Nam trong WTO (GATS), đây có thể xem là hình thức cung cấp dịch vụ qua biên giới và do đó không bị hạn chế. 

Theo đó, doanh nghiệp nước ngoài không phải xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, không phải đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, và không trực tiếp chịu sự quản lý về điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài. Nghĩa vụ tuân thủ pháp luật về đầu tư và kinh doanh chủ yếu đặt ra đối với doanh nghiệp Việt Nam cung ứng dịch vụ.

Về mặt pháp lý, thuê ngoài hoạt động được điều chỉnh chủ yếu bởi chế định hợp đồng dịch vụ, cụ thể:

- Bộ luật Dân sự điều chỉnh các nguyên tắc chung của hợp đồng, bao gồm việc xác lập, thực hiện, sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dịch vụ, cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có vi phạm.

- Luật Thương mại áp dụng trong trường hợp các bên đều là thương nhân và mục đích của hợp đồng là sinh lợi, điều chỉnh các nội dung liên quan đến hợp đồng cung ứng dịch vụ, thanh toán, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.

- Pháp luật chuyên ngành điều chỉnh tùy theo loại dịch vụ được thuê ngoài, chẳng hạn pháp luật về công nghệ thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, lao động và các quy định liên quan khác.

Mặc dù được pháp luật thừa nhận thông qua cơ chế hợp đồng dịch vụ, mô hình thuê ngoài chỉ hợp pháp trong trường hợp doanh nghiệp nước ngoài không trực tiếp điều hành, quản lý nhân sự, cơ sở vật chất hoặc hoạt động vận hành tại Việt Nam. Nếu trên thực tế doanh nghiệp nước ngoài tham gia sâu vào việc quản lý, điều hành hoạt động hàng ngày, mô hình này có thể bị cơ quan quản lý diễn giải là hiện diện thương mại hoặc đầu tư trá hình, từ đó phát sinh yêu cầu tuân thủ pháp luật về đầu tư và điều kiện tiếp cận thị trường.

Ngược lại, khi doanh nghiệp nước ngoài thành lập chi nhánh hoặc công ty con tại Việt Nam để trực tiếp vận hành hoạt động (ví dụ: trung tâm giám sát video 24/7), mô hình này được phân loại là Phương thức 3 – hiện diện thương mại và sẽ chịu sự điều chỉnh đầy đủ của pháp luật Việt Nam về đầu tư nước ngoài bao gồm thủ tục đăng ký đầu tư (nếu có), điều kiện tiếp cận thị trường và các cam kết mở cửa dịch vụ tương ứng của Việt Nam trong WTO, chế độ kế toán, thuế, lao động cũng như các nghĩa vụ tuân thủ liên quan đến hoạt động vận hành tại Việt Nam.

3. Thời gian và chi phí triển khai dự kiến cho từng phương án

a. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Đây là phương án nhà đầu tư nước ngoài thành lập pháp nhân độc lập tại Việt Nam (thường là công ty TNHH một thành viên hoặc hai thành viên trở lên).

Về thời gian, trên thực tế cần khoảng 60–90 ngày, bao gồm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp ngành nghề có điều kiện hoặc phải xin ý kiến bộ ngành, thời gian có thể kéo dài hơn.

Về chi phí, ngoài lệ phí nhà nước ở mức thấp, chi phí chủ yếu phát sinh từ dịch vụ tư vấn pháp lý; chi phí thiết lập bộ máy ban đầu (văn phòng, nhân sự, hệ thống kỹ thuật); và chi phí tuân thủ thường xuyên sau thành lập (kế toán, thuế, lao động, bảo hiểm, báo cáo). Tổng chi phí khởi sự ở mức cao nhất trong các phương án, đổi lại là mức độ ổn định và kiểm soát pháp lý cao.

b. Thành lập chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam

Chi nhánh không phải là pháp nhân, nhưng là hiện diện thương mại hợp pháp của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam, được phép thực hiện hoạt động kinh doanh trong phạm vi được cấp phép.

Về thời gian, thủ tục cấp Giấy phép thành lập chi nhánh thường kéo dài khoảng 30–45 ngày, nhìn chung nhanh hơn so với thành lập doanh nghiệp, do không phải thực hiện thủ tục đầu tư.

Về chi phí, chi phí ban đầu thấp hơn doanh nghiệp, do không cần vốn điều lệ và cơ cấu quản trị phức tạp. Tuy nhiên, chi nhánh vẫn phải duy trì bộ máy kế toán, lao động, nghĩa vụ thuế và tuân thủ pháp luật Việt Nam tương tự như doanh nghiệp. Ngoài ra, do chi nhánh không có tư cách pháp nhân, mọi nghĩa vụ pháp lý phát sinh được quy trách trực tiếp về công ty mẹ ở nước ngoài.

c. Thuê ngoài hoạt động cho doanh nghiệp Việt Nam (không có hiện diện thương mại)

Theo phương án này, công ty nước ngoài không thành lập doanh nghiệp hoặc chi nhánh tại Việt Nam, mà ký hợp đồng dịch vụ với một doanh nghiệp Việt Nam để thực hiện toàn bộ hoặc một phần hoạt động vận hành.

Về thời gian, đây là phương án nhanh nhất, thông thường chỉ mất 2–4 tuần, chủ yếu để đàm phán, ký kết hợp đồng dịch vụ và thiết lập cơ chế phối hợp vận hành.

Về chi phí, chi phí ban đầu thấp, không phát sinh chi phí đầu tư, không có nghĩa vụ trực tiếp về lao động, bảo hiểm hay quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam. Chi phí chủ yếu là phí dịch vụ định kỳ trả cho đối tác Việt Nam. Tuy nhiên, về dài hạn, tổng chi phí có thể tăng tùy quy mô nhân sự và mức độ phụ thuộc vào đối tác.

4. Các yêu cầu pháp lý đặc thù đối với hoạt động vận hành trung tâm giám sát video

Việc vận hành trung tâm giám sát video tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh đồng thời của nhiều nhóm nghĩa vụ pháp lý đặc thù chủ yếu tập trung vào dữ liệu cá nhân, an ninh mạng, tổ chức lao động và an ninh - an toàn cơ sở vận hành, cụ thể:

a. Yêu cầu về bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư

Hoạt động giám sát video về bản chất là xử lý dữ liệu cá nhân, vì hình ảnh, video có thể nhận diện cá nhân là dữ liệu cá nhân theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025.

Theo đó, trung tâm giám sát video phải đáp ứng các nghĩa vụ pháp lý sau:

- Có cơ sở pháp lý hợp lệ cho việc xử lý dữ liệu, nhất là sự đồng ý hợp lệ của chủ thể dữ liệu hoặc căn cứ pháp luật khác theo Luật.

- Thực hiện Đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân (DPIA) nếu hoạt động giám sát mang tính thường xuyên, quy mô lớn hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến quyền riêng tư.

- Thiết lập quy trình nội bộ về bảo vệ dữ liệu, bao gồm phân quyền truy cập, lưu vết truy cập, xử lý sự cố rò rỉ dữ liệu.

- Trường hợp truyền dữ liệu video ra nước ngoài (ví dụ: trụ sở tại Hà Lan truy cập hoặc lưu trữ), phải đáp ứng điều kiện chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài theo Luật và nghị định hướng dẫn.

b. Yêu cầu về an ninh mạng và an toàn hệ thống thông tin

Theo Luật An ninh mạng 2018 và các văn bản liên quan, trung tâm giám sát video được xem là đơn vị:

- Vận hành hệ thống thông tin xử lý dữ liệu,

- Có khả năng liên quan đến an ninh thông tin, an ninh mạng, đặc biệt nếu kết nối liên tục, 24/7.

- Nghĩa vụ pháp lý phát sinh bao gồm:

- Áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn hệ thống thông tin, phòng chống truy cập trái phép, tấn công mạng;

- Lưu trữ và quản lý nhật ký hệ thống theo quy định;

- Phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp có yêu cầu phục vụ điều tra, bảo đảm an ninh quốc gia (trong phạm vi luật định).

VI. Ước tính chi phí vận hành ban đầu và nhân sự cho giai đoạn triển khai ban đầu

Dựa trên kinh nghiệm tư vấn và mặt bằng thực tế tại Đà Nẵng đối với các mô hình văn phòng vận hành 24/7 (bao gồm trung tâm giám sát, NOC, SOC, trung tâm hỗ trợ kỹ thuật), chúng tôi trình bày các ước tính sơ bộ như sau. Các con số dưới đây mang tính tham khảo, có thể thay đổi tùy quy mô, nhà cung cấp và mức độ yêu cầu về tính sẵn sàng hệ thống.

1. Hạ tầng kỹ thuật – viễn thông – điện dự phòng

a. Kết nối Internet

Đối với hoạt động giám sát video liên tục, việc sử dụng đường truyền Internet chuyên dụng (leased line) là thông lệ phổ biến.

- Đường truyền leased line quốc tế 1 Gbps đối xứng: chi phí phổ biến khoảng 35 – 60 triệu VND/tháng, tùy nhà cung cấp và mức cam kết SLA.

- Phương án dự phòng (02 đường truyền độc lập, khác nhà mạng):
tổng chi phí thường dao động 65 – 100 triệu VND/tháng.

Trong thực tiễn, nhiều doanh nghiệp lựa chọn 01 đường truyền chính dung lượng lớn và 01 đường truyền dự phòng dung lượng thấp hơn để tối ưu chi phí nhưng vẫn đảm bảo tính liên tục.

b. Điện dự phòng

Đối với văn phòng quy mô nhỏ đến trung bình (khoảng 10–30 nhân sự):

- UPS online công nghiệp (10–20 kVA): chi phí đầu tư ban đầu khoảng 120 – 300 triệu VND, đủ duy trì hệ thống trong thời gian ngắn khi mất điện.

- Máy phát điện: nếu đặt văn phòng trong tòa nhà văn phòng tiêu chuẩn (hạng B trở lên), thông thường tòa nhà đã có máy phát điện chung; chi phí đã bao gồm trong phí quản lý. Trường hợp tự đầu tư riêng: chi phí khoảng 300 – 700 triệu VND tùy công suất.

Chi phí vận hành và bảo trì hàng tháng cho hệ thống điện dự phòng thường ở mức thấp, không đáng kể so với tổng chi phí vận hành.

2. Thiết lập văn phòng và trang thiết bị

Chi phí thiết lập ban đầu cho một vị trí làm việc phục vụ giám sát video thường bao gồm:

- Máy tính và thiết bị xử lý: khoảng 18 – 30 triệu VND

- Màn hình (2–3 màn hình): khoảng 8 – 15 triệu VND

- Bàn, ghế công thái học: khoảng 6 – 12 triệu VND

- Thiết bị mạng, chia bình quân: khoảng 3 – 6 triệu VN

Tổng chi phí thiết lập ban đầu ước tính 35 – 60 triệu VND cho mỗi nhân sự, chưa bao gồm chi phí thuê mặt bằng và cải tạo (fit-out).

Trên đây là nội dung tư vấn của DB Legal. Trường hợp Quý Khách hàng cần báo giá chi tiết hoặc làm rõ thêm thông tin, vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời.

Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân tham khảo tại đây 

 

Thông tin có trong bài viết này mang tính chất chung và chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về quy định pháp luật. DB Legal sẽ không chịu trách nhiệm cho bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin cho bất kỳ mục đích kinh doanh nào. Để có tư vấn pháp lý chuyên sâu, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

For more information: 

📞: +84 357 466 579

📧: contact@dblegal.vn

🌐Facebook:  DB Legal Vietnamese Fanpage or DB Legal English Fanpage 

🐦X(Twitter)

💼Linkedin

🎬Youtube

Liên hệ

Địa chỉ 1: Tầng 3, Tòa nhà Indochina Riverside Tower, 74 Bạch Đằng, Phường Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam

Địa chỉ 2: 28 Thanh Lương 20, Phường Hòa Xuân, Thành Phố Đà Nẵng, Việt Nam

Hotline 1: (+84) 357 466 579

Hotline 2: (+84) 985 271 242

Điện thoại: (+84) 236.366.4674

Email: contact@dblegal.vn

zalo
whatsapp