GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA BẰNG CHỨNG EMAIL/WHATSAPP
Trong kỷ nguyên kinh tế số, các phương thức giao tiếp truyền thống đang dần được thay thế bằng những cú "click" chuột hay những dòng tin nhắn tức thời. Email và WhatsApp không còn đơn thuần là công cụ trò chuyện, mà đã trở thành phương tiện giao kết hợp đồng và thực hiện giao dịch dân sự phổ biến. Tuy nhiên, khi tranh chấp phát sinh, một câu hỏi pháp lý hóc búa luôn được đặt ra: Liệu những dòng tin nhắn hay dòng thư điện tử đó có đủ "sức nặng" để bảo vệ quyền lợi của các bên? Bài viết này sẽ phân tích chi tiết giá trị pháp lý của bằng chứng Email/WhatsApp.
Mục lục:
- 1. Giao dịch thông qua email/Whatsapp thì có hiệu lực pháp lý không?
- 2. Email và tin nhắn WhatsApp có được coi là chứng cứ hợp pháp không?
- 3. Thông điệp dữ liệu có thể có giá trị như văn bản hay không?
- 4. Khi nào một Email/tin nhắn WhatsApp có giá trị như bản gốc?
- 5. Làm thế nào để tăng giá trị pháp lý của email/WhatsApp?
1. Giao dịch thông qua email/Whatsapp thì có hiệu lực pháp lý không?
Trả lời: Có
Thông điệp dữ liệu được quy định là thông tin được tạo ra, được gửi, được nhận, được lưu trữ bằng phương tiện điện tử theo khoản 4 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử 2023. Hình thức của thông điệp dữ liệu theo Điều 7 Luật Giao dịch điện tử 2023 có thể được thể hiện dưới hình thức văn bản điện tử, tài liệu điện tử, chứng thư điện tử, chứng từ điện tử, hợp đồng điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và hình thức trao đổi dữ liệu điện tử khác theo quy định của pháp luật; hoặc được tạo ra, phát sinh trong quá trình giao dịch hoặc được chuyển đổi từ văn bản giấy
Đồng thời, theo Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015, Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
Như vậy, việc thực hiện giao dịch qua email/WhatsApp được coi là giao dịch dân sự bằng văn bản và có giá trị pháp lý nếu thỏa các điều kiện có hiệu lực đối với giao dịch dân sự theo quy định.
2. Email và tin nhắn WhatsApp có được coi là chứng cứ hợp pháp không?
Trả lời: Có
Căn cứ Điều 11 Luật Giao dịch điện tử 2023:
(i) Thông điệp dữ liệu được dùng làm chứng cứ theo quy định của Luật này và pháp luật về tố tụng.
(ii) Giá trị dùng làm chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, gửi, nhận hoặc lưu trữ thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo, gửi, nhận thông điệp dữ liệu và các yếu tố phù hợp khác.
Đồng thời, theo khoản 1 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, “Dữ liệu điện tử” được xem là một trong những nguồn chứng cứ. Và theo khoản 3 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Như vậy, email và tin nhắn WhatsApp hoàn toàn có thể được coi là chứng cứ hợp pháp nếu thỏa mãn các điều kiện xác định giá trị đối với thông điệp dữ liệu dùng làm chứng cứ theo quy định.
3. Thông điệp dữ liệu có thể có giá trị như văn bản hay không?
Trả lời: Có
Căn cứ Điều 9 Luật Giao dịch điện tử 2023:
Trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu nếu thông tin trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu.
Trường hợp pháp luật yêu cầu văn bản phải được công chứng, chứng thực thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu nếu được công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng; chứng thực theo quy định của Luật Giao dịch điện tử và pháp luật về chứng thực.
Như vậy, thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản nếu đáp ứng yêu cầu theo quy định pháp luật tùy từng trường hợp cụ thể.
4. Khi nào một Email/tin nhắn WhatsApp có giá trị như bản gốc?
Trả lời:
Căn cứ Điều 10 Luật Giao dịch điện tử 2023 thì thông điệp dữ liệu được sử dụng và có giá trị như bản gốc khi đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
(i) Thông tin trong thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh.
Thông tin trong thông điệp dữ liệu được xem là toàn vẹn khi thông tin đó chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu;
(ii) Thông tin trong thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh.
Như vậy, một email/tin nhắn WhatsApp có giá trị như bản gốc khi đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật.
5. Làm thế nào để tăng giá trị pháp lý của email/WhatsApp?
Trả lời: Một số biện pháp nhằm tăng giá trị pháp lý của email hay tin nhắn WhatsApp như sau:
(i) Lập Vi bằng thông qua Thừa phát lại:
Theo khoản 3 Điều 2 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định này.
Cùng với đó, theo khoản 3 Điều 36 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật; là căn cứ để thực hiện giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
(ii) Sử dụng chữ ký điện tử:
Định nghĩa chữ ký điện tử theo khoản 11 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử 2023 như sau: “Chữ ký điện tử là chữ ký được tạo lập dưới dạng dữ liệu điện tử gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu để xác nhận chủ thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể đó đối với thông điệp dữ liệu.”
Căn cứ Điều 23 Luật Giao dịch điện tử 2023:
- Chữ ký điện tử không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì được thể hiện dưới dạng chữ ký điện tử.
- Chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số có giá trị pháp lý tương đương chữ ký của cá nhân đó trong văn bản giấy.
- Trường hợp pháp luật quy định văn bản phải được cơ quan, tổ chức xác nhận thì yêu cầu đó được xem là đáp ứng đối với một thông điệp dữ liệu nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số của cơ quan, tổ chức đó.
Tóm lại, pháp luật Việt Nam hiện nay, đặc biệt là Luật Giao dịch điện tử, đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng để công nhận giá trị của bằng chứng điện tử. Tuy nhiên, giá trị của Email hay WhatsApp không đến từ sự tồn tại của chúng, mà đến từ tính xác thực và tính toàn vẹn của dữ liệu. Sự cẩn trọng trong từng dòng tin nhắn hôm nay chính là lá chắn pháp lý vững chắc nhất cho ngày mai.
Nội dung bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. DB Legal không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin này cho mục đích kinh doanh. Để được tư vấn chuyên sâu cho từng trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ chúng tôi.
Để biết thêm thông tin chi tiết:
Bài viết liên quan:
- QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VIỆC BỔ SUNG THÔNG TIN CHA VÀO GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ KHAI SINH
- Mẫu Văn Bản Xác Nhận Tình Trạng Hôn Nhân của Bê-la-rus
- Mẫu Văn Bản Xác Nhận Tình Trạng Hôn Nhân của Ba Lan
- Mẫu Văn Bản Xác Nhận Tình Trạng Hôn Nhân của Bỉ
- Mẫu Văn Bản Xác Nhận Tình Trạng Hôn Nhân của Úc
- GHI CHÚ KẾT HÔN TẠI VIỆT NAM
- Đăng ký khai sinh cho con của người nước ngoài chưa đăng ký kết hôn tại Việt Nam
- Đăng ký khai sinh và nhận cha cho con khi cha mẹ không đăng ký kết hôn
- Xử lý trường hợp không có xác nhận của cơ quan nước ngoài về thỏa thuận quốc tịch cho con
- Đăng ký quốc tịch nước ngoài cho con khi cha hoặc mẹ là người nước ngoài
.png)


