Banner

Tổng hợp 05 bản án về tranh chấp Hợp đồng phân phối/đại lý (2)

Trong hoạt động kinh doanh thương mại, hợp đồng phân phối và hợp đồng đại lý là hai phương thức phổ biến giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp về quyền lợi độc quyền, chỉ tiêu doanh số, đối trừ công nợ và xử lý hàng tồn kho khi chấm dứt hợp đồng, các bên rất dễ rơi vào xung đột pháp lý. Để giúp các luật sư, doanh nghiệp và bạn đọc có góc nhìn thực tế về cách Tòa án giải quyết các xung đột này, chúng tôi đã tổng hợp 05 bản án tiêu biểu về tranh chấp hợp đồng phân phối và đại lý. Các vụ án dưới đây sẽ làm rõ các vấn đề pháp lý trọng điểm như: chế tài phạt vi phạm, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, và nghĩa vụ nhận lại hàng hóa tồn kho.

1) Bản án số 04/2022/KDTM-PT "v/v tranh chấp hợp đồng phân phối hàng hóa" ngày 26 tháng 7 năm 2022 do Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu ban hành

(i) Nội dung bản án:

- Các bên tranh chấp:

+ Nguyên đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn G (Việt Nam);

+ Bị đơn là ông Triệu Thế A (Chủ hộ kinh doanh T1).

- Nội dung sự việc:

Năm 2020 và 2021, Công ty G và ông Thế A ký hợp đồng phân phối thức ăn tôm, trong đó ông Thế A làm nhà phân phối cấp I. Tại bảng đối chiếu công nợ ngày 31/3/2021, ông Thế A xác nhận còn nợ Công ty G tổng số tiền là 851.607.000 đồng nhưng sau đó không thanh toán.

- Yêu cầu khởi kiện: Công ty G khởi kiện yêu cầu ông Thế A trả nợ gốc 851.607.000 đồng, tiền lãi chậm trả là 111.618.846 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng là 68.128.560 đồng.

- Ý kiến của bị đơn: Ông Thế A thừa nhận số nợ nhưng không đồng ý thanh toán với lý do Công ty G vi phạm nghĩa vụ giao hàng, không trừ tiền chiết khấu thương mại vào công nợ và bán trực tiếp sản phẩm cho các đại lý cấp dưới của ông gây thiệt hại.

(ii) Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2022/KDTM-ST ngày 25/01/2022, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện: Buộc ông Triệu Thế A phải thanh toán cho Công ty G tổng số tiền là 963.225.846 đồng (bao gồm 851.607.000 đồng nợ gốc và 111.618.846 đồng tiền lãi chậm trả).

- Không chấp nhận yêu cầu đòi tiền phạt: Bác yêu cầu của Công ty G về việc đòi tiền phạt vi phạm hợp đồng số tiền 68.128.560 đồng.

(iv) Nhận định của Toà án cấp phúc thẩm (Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu)

Sau bản án sơ thẩm, cả Công ty G (đòi thêm tiền phạt) và ông Thế A (đòi trừ tiền chiết khấu, không trả tiền lãi...) đều kháng cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

- Về yêu cầu phạt vi phạm của Công ty G: Các bên xác nhận ông Thế A chỉ vi phạm nghĩa vụ chậm thanh toán và Công ty không bị thiệt hại. Trong điều khoản thanh toán của hợp đồng không có thỏa thuận về việc chậm thanh toán sẽ bị phạt. Hơn nữa, tại biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/3/2021 cũng không ghi nhận việc phạt vi phạm. Do đó, án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm là hoàn toàn có cơ sở.

- Về yêu cầu trừ tiền chiết khấu của ông Thế A: Bảng đối chiếu công nợ chốt ngày 31/3/2021 đã có đối trừ tiền chiết khấu. Tại tòa, ông Thế A cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh phía Công ty G còn nợ tiền chiết khấu chưa trả. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

- Đối với một số yêu cầu kháng cáo khác của bị đơn, do ông Thế A đã tự nguyện rút lại trong quá trình tố tụng nên Tòa đình chỉ xét xử các phần này.

(iii) Quyết định của Toà án cấp phúc thẩm (Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu)

Căn cứ vào các nhận định nêu trên, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu quyết định:

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với một số yêu cầu kháng cáo mà ông Triệu Thế A đã rút.

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty G và bị đơn ông Triệu Thế A.

- Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2022/KDTM-ST ngày 25/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Ông Thế A vẫn phải trả cho Công ty G tổng số tiền 963.225.846 đồng và yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của Công ty G tiếp tục bị bác bỏ.

2)  Bản án số 52/2022/KDTM-PT v/v: Tranh chấp hợp đồng độc quyền khai thác sản phẩm âm nhạc ngày 19/4/2022 (ngày cũ là 12/11/2021, đã được sửa chữa theo Quyết định số 10/2022/QĐ-SCBSBA) do Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ban hành

(i) Nội dung bản án

- Các bên tranh chấp:

+ Nguyên đơn là Công ty Cổ phần VNG (ZING) và bị đơn là Công ty Cổ phần Truyền thông và Giải trí Hồng Ân (Công ty Hồng Ân).

- Nội dung sự việc:

+ Năm 2018, hai công ty ký Hợp đồng độc quyền khai thác sản phẩm âm nhạc. Đến ngày 10/12/2019, hai bên ký tiếp các phụ lục, trong đó Hồng Ân cho phép ZING độc quyền khai thác bản ghi bài hát “Vì sao anh cố giấu” (do ca sĩ Hương Tràm thể hiện) trong thời hạn 1 năm; đổi lại, ZING hỗ trợ gói tài trợ quảng bá trị giá 550 triệu đồng. Tuy nhiên, ZING phát hiện bản ghi này đang được phát hành trên các nền tảng khác như Spotify, Apple Music và Nhaccuatui do sự ủy quyền từ Công ty Hồng Ân, vi phạm thỏa thuận độc quyền giữa hai bên.

+ Yêu cầu khởi kiện: ZING khởi kiện yêu cầu Hồng Ân thực hiện đúng hợp đồng và phải hoàn trả toàn bộ gói tài trợ quảng bá là 550.000.000 đồng.

+ Ý kiến & Yêu cầu phản tố của bị đơn: Công ty Hồng Ân cho rằng trước khi ký phụ lục đã thông báo cho ZING việc Spotify khai thác và đang xin chặn IP tại Việt Nam nên ZING đã ngầm hiểu và chấp nhận. Đồng thời, Hồng Ân có đơn phản tố yêu cầu ZING phải đối soát, thanh toán chia sẻ doanh thu từ việc ZING khai thác bản ghi này trên Zing MP3.

(ii) Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 20/2021/KDTM-ST ngày 28/10/2021, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ZING: Buộc Công ty Hồng Ân thực hiện đúng hợp đồng đã ký và phải hoàn trả toàn bộ gói tài trợ quảng bá 550.000.000 đồng cho ZING.

- Chấp nhận yêu cầu phản tố của Hồng Ân: Buộc ZING thực hiện đối soát, thanh toán chia sẻ doanh thu cho Hồng Ân đối với việc khai thác bản ghi trên Zing MP3 trong giai đoạn từ 10/12/2019 đến 18/11/2020.

(iv) Nhận định của Toà án cấp phúc thẩm (Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội)

Sau khi Công ty Hồng Ân kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

- Về việc vi phạm độc quyền:

Công ty Hồng Ân đã vi phạm thỏa thuận khi không những không đảm bảo quyền khai thác độc quyền cho ZING mà còn cho phép bên thứ ba phát hành bản ghi. Việc Hồng Ân cho rằng ZING đã ngầm chấp nhận việc Spotify phát hành là không có căn cứ, vì trong hợp đồng và các phụ lục không có bất kỳ điều khoản nào thể hiện sự chấp nhận này.

- Về yêu cầu áp dụng mức phạt 8%:

Tại phụ lục hợp đồng quy định rõ: nếu Hồng Ân vi phạm thì phải có trách nhiệm hoàn trả lại toàn bộ gói tài trợ tương ứng 550.000.000 đồng. Đây là nghĩa vụ hoàn trả tài sản do vi phạm hợp đồng (theo Bộ luật Dân sự), hoàn toàn không phải là chế tài phạt vi phạm hợp đồng. Do hai bên không có thỏa thuận về khoản "phạt vi phạm", nên việc Hồng Ân kháng cáo đòi áp dụng mức phạt không quá 8% theo Luật Thương mại là không có cơ sở.

(iii) Quyết định của Toà án cấp phúc thẩm (Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội)

Từ những nhận định trên, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

- Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Hồng Ân.

- Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 20/2021/KDTM-ST ngày 28/10/2021 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Cụ thể, Công ty Hồng Ân vẫn phải hoàn trả 550.000.000 đồng cho ZING, và ZING vẫn phải thực hiện chia sẻ doanh thu khai thác bản ghi cho Hồng Ân.

3)  Bản án số 510/2019/KDTM-PT v/v: tranh chấp hợp đồng phân phối ngày 03 tháng 6 năm 2019 (ngày cũ là 12/11/2021, đã được sửa chữa theo Quyết định số 10/2022/QĐ-SCBSBA) do Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành

(i) Nội dung bản án

- Các bên tranh chấp: Nguyên đơn là Công ty TNHH TKXD 6 (Công ty số 6) và bị đơn là Công ty Cổ phần thương mại sản xuất TUV (Công ty TUV),,.

- Nội dung sự việc: Ngày 30/3/2016, hai bên ký Hợp đồng phân phối, theo đó Công ty số 6 làm nhà phân phối các sản phẩm sữa của Công ty TUV tại tỉnh Cà Mau với chỉ tiêu tồn kho ít nhất bằng 50% doanh số bán hàng hàng tháng. Đến ngày 01/9/2016, Công ty TUV ra thông báo đơn phương thanh lý hợp đồng vì cho rằng Công ty số 6 không đáp ứng yêu cầu tồn kho (chỉ tồn 15,3 thùng tại kho).

- Phát sinh tranh chấp: Sau khi nhận thông báo, Công ty số 6 đã đi thu gom sữa tồn từ các cửa hàng (đại lý bán lẻ) về và 5 lần gửi công văn yêu cầu Công ty TUV chốt số lượng (tổng 146,46 thùng) để nhận lại hàng nhưng Công ty TUV không phản hồi, không hợp tác.

- Yêu cầu khởi kiện: Công ty số 6 kiện yêu cầu Công ty TUV bồi thường 1 tháng tiền thù lao (10.879.332 đồng) và buộc Công ty TUV nhận lại 71,83 thùng sữa (số lượng đã rút bớt so với ban đầu), đồng thời hoàn trả số tiền tương đương là 209.617.271 đồng,. Phía Công ty TUV từ chối nhận lại hàng thu gom từ các shop vì cho rằng không liên quan đến họ, chỉ đồng ý trả khoản thù lao,.

(ii) Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm

Tại Bản án sơ thẩm số 67/2018/KDTM-ST ngày 02/11/2018, Tòa án nhân dân quận Bình Tân đã quyết định:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty số 6.

- Buộc Công ty TUV thanh toán 1 tháng tiền thù lao là 10.879.332 đồng.

- Buộc Công ty TUV nhận lại 15,3 thùng sữa và thanh toán lại cho Công ty số 6 số tiền 48.109.696 đồng.

(iv) Nhận định của Toà án cấp phúc thẩm (Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh)

Sau khi bản án sơ thẩm bị cả hai bên kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định,,:

- Về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng:

Trong hợp đồng không quy định doanh số nhập hàng tối thiểu mỗi tháng là bao nhiêu. Việc Công ty TUV tự căn cứ vào số lượng 15,3 thùng để cho rằng Công ty số 6 vi phạm chỉ tiêu tồn kho rồi đơn phương chấm dứt hợp đồng là không có căn cứ, trái với thỏa thuận và quy định pháp luật,. Tòa sơ thẩm buộc TUV trả 1 tháng thù lao là đúng.

- Về việc trả lại hàng tồn kho:

Công ty TUV đã nhận được 5 công văn yêu cầu chốt tồn kho nhưng không phản hồi, không hợp tác thanh lý,. Việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ buộc bị đơn nhận lại 15,3 thùng (chỉ là số lượng chốt tại kho trước thời điểm thanh lý, chưa tính số lượng sữa thu gom từ các shop về) là chưa đúng, gây bất lợi cho nguyên đơn. Do Công ty TUV là bên có lỗi đơn phương chấm dứt hợp đồng, Tòa án phúc thẩm cho rằng có cơ sở buộc bị đơn phải nhận lại toàn bộ 71,83 thùng sữa (gồm 15,3 thùng tại kho và 56,53 thùng thu hồi từ shop).

(iii) Quyết định của Toà án cấp phúc thẩm (Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh)

Căn cứ vào các nhận định trên, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh quyết định:

- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn (Công ty số 6) và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn (Công ty TUV). Sửa một phần bản án sơ thẩm.

- Buộc Công ty TUV thanh toán 1 tháng tiền thù lao là 10.879.332 đồng cho Công ty số 6.

- Buộc Công ty TUV phải nhận lại 71,83 thùng sữa từ Công ty số 6 và hoàn trả lại số tiền tương đương là 209.617.000 đồng.

4) Bản án V/v "Tranh chấp hợp đồng đại lý" số bản án: 29/KDTM-ST ngày 25 tháng 10 năm 2018 do Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng ban hành

(i) Nội dung bản án

- Các bên tranh chấp: Nguyên đơn là Công ty TNHH T và bị đơn là ông Hồ Văn X (Chủ hộ kinh doanh Hồ Văn X).
- Nội dung sự việc: Ngày 01/3/2017, Công ty T và ông X ký Hợp đồng đại lý, theo đó ông X làm đại lý phân phối sản phẩm cho Công ty T. Theo biên bản làm việc ngày 12/4/2017, tính đến ngày 10/4/2017 ông X nợ Công ty T số tiền 965.855.503 đồng. Công ty T đã tạo điều kiện cho ông X tiếp tục bán hàng để trả nợ dần nhưng ông X không đạt chỉ tiêu doanh số và không thanh toán nợ như cam kết. Do đó, ngày 01/8/2017, Công ty T đã thông báo chấm dứt hợp đồng đại lý. Ngày 06/9/2017, hai bên chốt công nợ tính đến 31/8/2017 là 944.924.936 đồng.
- Yêu cầu khởi kiện: Công ty T khởi kiện buộc ông X trả nợ gốc 944.924.936 đồng và tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử (25/10/2018) là 108.731.088 đồng. Tổng số tiền yêu cầu thanh toán là 1.053.656.024 đồng.
- Ý kiến của bị đơn: Ông X thừa nhận số nợ gốc trên và xác nhận có việc chốt công nợ với phía Công ty T. Tuy nhiên, ông cho biết lý do nợ số tiền lớn như vậy là vì những người làm việc cho ông mua hàng nhưng không chịu trả tiền. Do hoàn cảnh khó khăn, ông X xin được trả góp mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

(ii) Nhận định của Toà án (Cấp sơ thẩm)

- Về số nợ gốc: Dựa vào sự thừa nhận của ông X và chứng cứ "bản xác nhận công nợ ngày 06/9/2017" do Công ty T cung cấp, Tòa án xác định có đủ cơ sở để khẳng định ông X còn nợ tiền. Yêu cầu đòi lại số tiền nợ gốc của Công ty T là có cơ sở, phù hợp với khoản 4 Điều 172 và khoản 4 Điều 175 Luật Thương mại nên Tòa án chấp nhận.
- Về yêu cầu tính lãi: Yêu cầu buộc trả tiền nợ lãi (108.731.088 đồng) của Công ty T là phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật Thương mại nên cũng được Tòa án chấp nhận.

(iii) Quyết định của Toà án (Cấp sơ thẩm)

Từ những nhận định trên, Tòa án nhân dân quận Hải Châu quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng đại lý của Công ty TNHH T.
- Buộc ông Hồ Văn X phải trả cho Công ty TNHH T tổng số tiền là 1.053.656.024 đồng (trong đó bao gồm 944.924.936 đồng tiền nợ gốc và 108.731.088 đồng tiền nợ lãi).
- Kể từ ngày Công ty T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông X không trả tiền thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi nợ quá hạn.
- Ông Hồ Văn X phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 43.609.680 đồng.

5) Bản án số 27/2026/KDTM-PT "V/v tranh chấp hợp đồng phân phối​ ngày 19 tháng 01 năm 2026 do Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

(i) Nội dung bản án

  • Các bên tranh chấp: Nguyên đơn là Công ty TNHH X và bị đơn là Công ty TNHH C.
  • Nội dung sự việc: Hai bên ký kết Hợp đồng nhà phân phối được chỉ định năm 2016 (sau đó gia hạn đến 2021) và Hợp đồng nhà phân phối năm 2021. Ngày 01/01/2023, Công ty C gửi thông báo cho khách hàng của Công ty X rằng Công ty X không còn là đại diện phân phối các sản phẩm nhóm Kiểm soát Nhiễm khuẩn (máy tiệt khuẩn, vật tư y tế...) của hãng. Đến ngày 01/8/2023, Công ty C thông báo chấm dứt toàn bộ hợp đồng với Công ty X kể từ ngày 31/12/2023.
  • Yêu cầu khởi kiện: Công ty X kiện yêu cầu Công ty C phải nhận lại 09 hệ thống máy (GS8-1D, GS8-2D) do bị tồn kho không thể bán được, đồng thời hoàn trả số tiền mua máy là 15.231.630.388 đồng (giá trị đã điều chỉnh tại tòa sơ thẩm). Ngoài ra, Công ty X yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là 1.667.931.031 đồng.
  • Ý kiến của bị đơn: Công ty C từ chối toàn bộ yêu cầu, cho rằng bản chất hợp đồng là mua bán hàng hóa (mua đứt bán đoạn). Khi Công ty X hoàn tất mua hàng thì quyền sở hữu đã chuyển giao, do đó Công ty C không có nghĩa vụ nhận lại hàng tồn kho hay trả lại tiền.

(ii) Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/KDTM-ST ngày 15/8/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 6 - TP. Hồ Chí Minh đã quyết định:

  • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện: Buộc Công ty C nhận lại 09 hệ thống máy và hoàn trả cho Công ty X số tiền 15.231.630.388 đồng.
  • Không chấp nhận yêu cầu buộc Công ty C bồi thường thiệt hại số tiền 1.667.931.031 đồng.
  • Đình chỉ yêu cầu buộc nhận lại 01 máy phụ 50AN.

(iv) Nhận định của Toà án cấp phúc thẩm (Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh)

Sau khi Viện kiểm sát kháng nghị và bị đơn kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

  • Về bản chất hợp đồng: Hợp đồng giữa hai bên thực chất là hợp đồng mua bán hàng hóa có điều kiện chứ không phải là hợp đồng đại lý thương mại. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận quan điểm kháng cáo, kháng nghị về vấn đề này và cho rằng Tòa sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là "hợp đồng phân phối" là chưa chính xác.
  • Về yêu cầu trả lại hàng tồn kho: 09 hệ thống máy trên là trang thiết bị y tế do Công ty C độc quyền sản xuất, thuộc nhóm hàng hóa kinh doanh có điều kiện và không thể tiêu thụ rộng rãi trên thị trường. Khi hợp đồng chấm dứt, Công ty X không còn là đại diện phân phối, dẫn đến việc số hàng tồn kho này không thể tiếp tục kinh doanh do không đủ điều kiện theo các ràng buộc của hợp đồng. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn (Công ty C) phải có nghĩa vụ nhận lại máy và hoàn tiền là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

(iii) Quyết định của Toà án cấp phúc thẩm (Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh)

Căn cứ vào các nhận định nêu trên, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh quyết định:

1. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 và một phần kháng cáo của Công ty C về việc xác định lại quan hệ tranh chấp là hợp đồng mua bán hàng hóa.

2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/KDTM-ST ngày 15/8/2025.

3. Cụ thể, buộc Công ty C nhận lại 09 hệ thống máy và hoàn trả 15.231.630.388 đồng cho Công ty X; Bác yêu cầu bồi thường thiệt hại 1.667.931.031 đồng; Đình chỉ yêu cầu đối với 01 máy phụ 50AN.

Nội dung bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. DB Legal không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin này cho mục đích kinh doanh. Để được tư vấn chuyên sâu cho từng trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ chúng tôi.

Để biết thêm thông tin chi tiết:

 

Liên hệ

Địa chỉ 1: Tầng 3, Tòa nhà Indochina Riverside Tower, 74 Bạch Đằng, Phường Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam

Địa chỉ 2: 28 Thanh Lương 20, Phường Hòa Xuân, Thành Phố Đà Nẵng, Việt Nam

Hotline 1: (+84) 357 466 579

Hotline 2: (+84) 985 271 242

Điện thoại: (+84) 236.366.4674

Email: contact@dblegal.vn

zalo
whatsapp