Banner

Tổng Hợp Bản Án Về Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ (1)

1. Bản án 14/2026/KT-PT: Giá trị pháp lý của vi bằng trong tranh chấp nhãn hiệu

I. Nội dung vụ án

1. Trình bày của Nguyên đơn (Công ty M)

Công ty M là chủ sở hữu nhãn hiệu bỉm/tã lót trẻ em "md" (GCN ĐKNH số 453623 cấp ngày 23/05/2023) và "MD" (GCN ĐKNH số 521121 cấp ngày 25/12/2024). Ngày 07/11/2024, M phát hiện trên Fanpage Facebook "Lvietnam" quảng cáo/bán sản phẩm bỉm do Công ty H phân phối sử dụng các dấu hiệu "SBMD" và "momoDiamond" tương tự, gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ của M.Sản phẩm thu thập theo Vi bằng (số 694 và 728/2024/VB-TPLAB) có in bao bì chứa thông tin tên, địa chỉ, mã QR và Giấy phép kinh doanh của Công ty H. Các Kết luận giám định số NH781-24YC/KLGĐ và NH001-25YC/KLGĐ kết luận dấu hiệu "mD" và "MMDiamond" gắn trên bao bì sản phẩm bỉm trẻ em thu thập được là yếu tố xâm phạm quyền đối với các nhãn hiệu đã được bảo hộ của M.
Yêu cầu khởi kiện: 
- Buộc Công ty H lập tức chấm dứt hành vi xâm phạm và ngừng quảng bá hàng hóa giả mạo.
- Thu hồi và tiêu hủy toàn bộ hàng hóa giả mạo nhãn hiệu. 
- Loại bỏ mã QR chứa thông tin của M.
- Xin lỗi, cải chính công khai trên các phương tiện truyền thông (Fanpage "L Vietnam" hoặc kênh chính thức). 
(Tại phiên tòa sơ thẩm, M bổ sung yêu cầu bồi thường 500 triệu đồng).

2. Trình bày của Bị đơn (Công ty H)

- Vi bằng do nguyên đơn lập từ dữ liệu mạng xã hội mang tính một chiều, thiếu khách quan, chưa được cơ quan thẩm quyền xác minh xem Fanpage "L Vietnam" hay sản phẩm đó có thuộc Công ty H hay không. Đề nghị loại trừ các tài liệu này.
- Theo Công văn số 127/QLTTBG-TTPC ngày 10/02/2025 của Cục Quản lý thị trường tỉnh Bắc Giang, qua thẩm tra trực tiếp tại cơ sở sản xuất/kho hàng, Công ty H không sản xuất, kinh doanh hay đóng gói loại bỉm mang nhãn hiệu "SBMD".

3. Quyết định của Tòa án Sơ thẩm

- TAND tỉnh Bắc Ninh quyết định không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn (Công ty M).

- Nguyên đơn kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện.

II. Nhận định của Tòa án Phúc thẩm

Hội đồng xét xử Phúc thẩm thống nhất với Tòa sơ thẩm và đại diện VKS, đưa ra các nhận định chính như sau:
- Về Quyền sở hữu nhãn hiệu: Công ty M đúng là chủ sở hữu hợp pháp đối với các nhãn hiệu "md" và "MD" đã được đăng ký bảo hộ.
- Về việc chứng minh hành vi xâm phạm của Bị đơn
+ Giá trị pháp lý của Vi bằng: Vi bằng (số 694 và 728) do Thừa phát lại lập chỉ ghi nhận sự việc xảy ra tại một thời điểm trên mạng xã hội, không tự nó chứng minh được hành vi xâm phạm đó do chính Công ty H thực hiện. Nguyên đơn đơn phương thu thập dữ liệu mà không đối soát/xác minh với bị đơn trước khi lập vi bằng là chưa đảm bảo tính khách quan.
+ Nguyên đơn không cung cấp được tài liệu/chứng cứ chứng minh Fanpage "Lvietnam" hay Website [www.Lvietnam.com](https://www.Lvietnam.com).vn thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của Công ty H (Tòa án và các cơ quan chuyên môn cũng không thể thu thập được bằng chứng này).
+ Khác biệt về thực tế nhập khẩu và kiểm tra: Tờ khai hải quan thể hiện Công ty H có nhập khẩu bỉm hiệu "S", nhưng M không chứng minh được số hàng nhập khẩu này trùng khớp với hàng hóa mang bao bì xâm phạm. Ngược lại, Cục QLTT tỉnh Bắc Giang đã xác minh thực tế Công ty H không kinh doanh/đóng gói bỉm nhãn hiệu "SBMD".
+ Về yêu cầu bổ sung bồi thường 500 triệu đồng: Việc M bổ sung yêu cầu bồi thường tại phiên tòa sơ thẩm vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Tòa sơ thẩm không xem xét là đúng quy định.

IV. Quyết định của Tòa án

Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự:
1. Về nội dung: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần thương mại và xuất nhập khẩu M; Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 13/2025/KDTM-ST ngày 30/09/2025 của TAND tỉnh Bắc Ninh.2. Về án phí: Công ty M phải chịu 2.000.000 đồng tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm (được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp thay bởi ông Nguyễn Chí T).

2. Bản án 79/2026/KDTM-PT: Tranh chấp kiểu dáng công nghiệp và thủ tục giám định

I. Nội dung vụ án

1. Trình bày của Nguyên đơn (Doanh nghiệp tư nhân V)

- Nguyên đơn sở hữu Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp (BĐQKDN) số 11395 (cấp ngày 25/12/2007) và BĐQKDN số 12312 (cấp ngày 10/09/2008) đối với sản phẩm "Loa" (đã gia hạn đến ngày 02/05/2022). Bị đơn (Công ty G) đã sử dụng kiểu dáng được bảo hộ nói trên để sản xuất "Loa kèn" cung ứng cho gói thầu "Cung cấp, lắp đặt thiết bị truyền thanh cho 52 đài truyền thanh xã" do Sở TT&TT tỉnh L làm chủ đầu tư (gồm 156 cái loại 100W-150W và 104 cái loại 50W-75W). Bản kết luận giám định số KD 104-19YC/KLGĐ ngày 06/12/2019 kết luận kiểu dáng loa của Công ty G là yếu tố xâm phạm quyền đối với KDCN "Loa" được bảo hộ theo BĐQKDN số 12312 của DNTN.
- Yêu cầu khởi kiện:
(i) Buộc Bị đơn chấm dứt việc sử dụng trái phép KDCN "Loa" theo BĐQKDN số 11395 và 12312.
(ii) Buộc Bị đơn loại bỏ, tiêu hủy các sản phẩm loa xâm phạm.
(iii) Buộc Bị đơn bồi thường thiệt hại vật chất (lợi nhuận thu được do xâm phạm): 2.000.000.000 đồng.
(iv) Buộc Bị đơn thanh toán chi phí tố tụng (lấy mẫu, giám định, thuê đại diện): 300.000.000 đồng.
(v) Buộc Bị đơn xin lỗi công khai trên các báo điện tử (vnexpress.net, b...).

2. Trình bày của Bị đơn (Công ty G / V1)

- Phản bác yêu cầu khởi kiện: Không thực hiện bất kỳ hành vi nào xâm phạm kiểu dáng công nghiệp của Nguyên đơn, sự khác biệt về kiểu dáng:
+ Sản phẩm của Bị đơn có cấu tạo từ 5 bộ phận ghép nối linh hoạt.
+ Phần miệng loa của G thoải mở rộng dần, trụ đỡ thân loa có 2 trụ mở góc 90 độ, đường cong thân loa liên tục. Ngược lại, sản phẩm bảo hộ của V có miệng loa trổ dốc thẳng, chỉ có 1 trụ đỡ.
+ Tính phổ biến/Tình trạng kỹ thuật có trước: Mẫu loa kèn phát thanh đã được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam từ trước năm 1989 (có xác nhận của Đài truyền thanh huyện C) và trên thế giới từ hàng trăm năm trước. DNTN V không phải là bên sáng tạo ra kiểu dáng nguyên gốc.
+ Tính pháp lý của Kết luận giám định: V2 Trí tuệ thực hiện giám định đơn phương theo yêu cầu một chiều của Nguyên đơn, không có sự tham gia của Bị đơn nên không đảm bảo tính khách quan.
- Ý kiến chuyên môn của Cục SHTT: Công văn số 3760/SHTT-TTKN ngày 24/09/2025 của Cục SHTT khẳng định mẫu loa của Công ty G có sự khác biệt đáng kể, không bị coi là xâm phạm quyền đối với BĐQKDN số 11395 và 12312.

3. Quyết định của Tòa án Sơ thẩm

- TAND TP. Hồ Chí Minh chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
  • Buộc Công ty G chấm dứt sử dụng trái phép KDCN "Loa" theo BĐQKDN số 11395 và 12312.
  • Buộc tiêu hủy các sản phẩm loa xâm phạm.
  • Buộc bồi thường thiệt hại 2.000.000.000 đồng.
  • Buộc thanh toán chi phí giám định, thẩm định giá: 19.750.000 đồng.
  • Buộc xin lỗi công khai.
Bị đơn (Công ty G) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

III. Nhận định của Tòa án Phúc thẩm

Hội đồng xét xử Phúc thẩm xem xét các căn cứ và nhận định:
1. Về thủ tục giám định và giá trị pháp lý của văn bản chuyên môn:
  • Theo Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Giám định tư pháp, chủ thể quyền SHTT chỉ có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan tố tụng trưng cầu nhưng không được chấp nhận. Trong vụ án này, Nguyên đơn tự ý đi giám định tại V2 Trí tuệ khi chưa có văn bản yêu cầu Tòa án là không đúng quy định; kết luận này chỉ mang tính tham khảo.
  • Ngược lại, Tòa án đã trưng cầu ý kiến chuyên môn từ cơ quan quản lý nhà nước là Cục Sở hữu trí tuệ (Công văn 3760/SHTT-TTKN và Công văn 3102/SHTT-TTKN ngày 07/07/2026). Cục SHTT kết luận: Sản phẩm loa của Công ty G có sự khác biệt đáng kể ở phần vành loa (dạng nón cụt cách điệu, đường sinh uốn cong, khác với vành loa nón cụt đường sinh thẳng của V) và màu sắc (xanh xám so với màu cam đậm).
2. Về khả năng phân biệt và yếu tố xâm phạm KDCN:
  • Theo Điều 126 Luật SHTT, Điều 10 Nghị định 105/2006/NĐ-CP và Điều 12 Thông tư 11/2015/TT-BKHCN, hành vi xâm phạm KDCN chỉ xảy ra khi sản phẩm là bản sao hoặc không khác biệt đáng kể so với KDCN được bảo hộ.
  • So sánh 3 đặc điểm tạo dáng cơ bản (hình khối, đường nét, màu sắc), sản phẩm của Công ty G có ít nhất 02 đặc điểm khác biệt đáng kể, đủ tạo ra ấn tượng thị giác tổng thể khác biệt đối với người tiêu dùng. Do đó, sản phẩm của Công ty G không xâm phạm KDCN của DNTN V.
3. Về thời hạn bảo hộ:
  • Các BĐQKDN của DNTN V đã hết thời hạn bảo hộ vào ngày 02/05/2022. Tòa án sơ thẩm tuyên buộc Bị đơn chấm dứt sử dụng và tiêu hủy sản phẩm mà không phân loại thời điểm sản xuất (trước hay sau khi hết hạn bảo hộ) là không chính xác.
  • Kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn là không có căn cứ. Kháng cáo của Bị đơn là có cơ sở chấp nhận.

IV. Quyết định của Tòa án

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự:
1. Về nội dung: Chấp nhận kháng cáo của Bị đơn (Công ty Cổ phần G / V1). Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 351/2025/KDTM-ST ngày 26/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh.
  • Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn (Ông Nguyễn Văn H1 - Chủ DNTN V) về việc buộc Công ty G chấm dứt hành vi, tiêu hủy sản phẩm, bồi thường thiệt hại 2.000.000.000 đồng, thanh toán chi phí tố tụng và xin lỗi công khai.
2. Về án phí & Chi phí tố tụng:
  • Nguyên đơn (Ông Nguyễn Văn H1) phải chịu 75.395.000 đồng án phí KDTM sơ thẩm (được khấu trừ vào 42.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp; ông H1 phải nộp thêm 33.395.000 đồng).
  • Nguyên đơn đã nộp đủ 19.750.000 đồng chi phí tố tụng.
  • Bị đơn (Công ty G / V1) không phải chịu án phí KDTM phúc thẩm và được hoàn trả 2.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

3. Bản án 01/2026/KDTM-PT: Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu gia truyền

I. Nội dung vụ án 

1. Trình bày của Nguyên đơn (Ông Phùng Văn T2)

- Ông T2 là con trai Lương y Phùng Nồng (cụ Phùng N, mất năm 2016). Được cha truyền nghề và ủng hộ mở cơ sở riêng để giữ thương hiệu gia đình, ông T2 mở cơ sở từ năm 2006 (đến 2012 chuyển về H L, được cấp ĐKKD và Giấy phép hoạt động YHCT). Ngày 15/04/2015, ông T2 nộp đơn đăng ký và được Cục SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (GCNĐKNH) số 277115 ngày 07/03/2017 đối với nhãn hiệu "PHÙNG NỒNG" cho nhóm 05 (Dược phẩm, thảo dược, thuốc xoa bóp, dược thảo, rễ cây thuốc, chất bổ sung dinh dưỡng). Từ giữa năm 2022, phát hiện bà Huỳnh Thị T1 (chị dâu/con dâu cụ N) sử dụng dấu hiệu trùng "PHÙNG NỒNG" trên biển hiệu, tên cơ sở khám chữa bệnh, bao bì nhãn mác thuốc thảo dược/xoa bóp và quảng cáo trên website, mạng xã hội.
- Yêu cầu khởi kiện (sau khi rút một phần tại sơ thẩm):
+ Buộc bà T1 chấm dứt hành vi xâm phạm nhãn hiệu và tên thương mại “PHÙNG NỒNG” đối với các sản phẩm thuộc nhóm 05 đã được bảo hộ.
+ Buộc thu hồi, tiêu hủy toàn bộ bao gói, nhãn hiệu, tờ rơi, biển hiệu, gỡ bỏ thông tin quảng cáo trên internet chứa dấu hiệu "PHÙNG NỒNG" đối với nhóm 05.
+ Kiến nghị Sở Y tế TP. Đà Nẵng thu hồi, điều chỉnh xóa bỏ tên "PHÙNG NỒNG" trên Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh số 0417/SYT-GPHĐ cấp ngày 28/10/2016 cho cơ sở của bà T1 đối với nhóm 05.

2. Trình bày và Phản tố của Bị đơn (Bà Huỳnh Thị T1) & Người liên quan (Ông Phùng Huỳnh B)

- Tên "PHÙNG NỒNG" là tên khai sinh của cụ Phùng N, người sáng lập phòng chẩn trị tại C H từ những năm 1980. Sau khi cụ mất năm 2016, bà T1 cùng con trai là ông Phùng Huỳnh B kế thừa, duy trì cơ sở và được cấp phép hoạt động. Tên gọi này đã được sử dụng từ trước khi ông T2 đăng ký. Nguyên đơn tự ý đăng ký khi chưa có văn bản chuyển giao quyền từ cụ N; nhãn hiệu không có khả năng phân biệt và trùng với tên thương mại có trước.
- Yêu cầu phản tố (sau khi rút một phần): Đề nghị Tòa án tuyên hủy bỏ Quyết định của Cục SHTT về việc cấp GCNĐKNH số 277115 ngày 07/03/2017 cho ông Phùng Văn T2.

3. Ý kiến chuyên môn của Cục Sở hữu trí tuệ

- Ông T2 là chủ sở hữu hợp pháp GCNĐKNH số 277115 được bảo hộ toàn quốc đối với Nhóm 05.
- Dấu hiệu gắn trên sản phẩm của bên bị đơn trùng với nhãn hiệu được bảo hộ, hành vi lưu thông sản phẩm dược phẩm mang dấu hiệu này khi chưa được phép là xâm phạm quyền theo khoản 1 Điều 129 Luật SHTT.

4. Quyết định của Tòa án Sơ thẩm

- Bản án sơ thẩm số 15/2025/KDTM-ST ngày 22/08/2025 của TAND TP. Đà Nẵng: Đình chỉ phần các bên rút yêu cầu; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện còn lại của Nguyên đơn; Bác yêu cầu phản tố của Bị đơn về việc hủy văn bằng bảo hộ.
- Bị đơn (Bà Huỳnh Thị T1) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

III. Nhận định của Tòa án Phúc thẩm

1. Hội đồng xét xử Phúc thẩm nhận định:
- Về tính hợp pháp và hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115:
+ Hồ sơ đăng ký nhãn hiệu của ông T2 thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục thẩm định nội dung, hình thức theo Luật SHTT 2005 (sửa đổi 2009).
+ Trong suốt quá trình ông T2 nộp đơn và hoạt động (từ 2006/2012 đến khi cấp bằng năm 2017), cụ Phùng N khi còn sống cũng như các thành viên khác không có bất kỳ tranh chấp hay ý kiến phản đối nào.
+ Việc bà T1 sở hữu nhà đất tại C H sau khi cụ N mất không đồng nghĩa với việc được kế thừa quyền sở hữu đối với nhãn hiệu/tên thương mại đã được bảo hộ hợp pháp của ông T2.
2. Về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp:
+ Mọi giấy phép đăng ký kinh doanh, chứng chỉ hành nghề và văn bằng bảo hộ nhãn hiệu của ông T2 đều được xác lập trước bà T1. Việc bà T1 tự làm thủ tục cấp phép năm 2016 là hành vi đơn phương sau khi cụ N qua đời.
+ Ông T2 đã được cấp độc quyền bảo hộ nhãn hiệu "PHÙNG NỒNG" trên toàn quốc cho các sản phẩm nhóm 05. Việc bà T1 gắn dấu hiệu trùng "PHÙNG NỒNG" lên các sản phẩm dược phẩm, thảo dược, thuốc xoa bóp kinh doanh ra thị trường mà không có sự đồng ý của ông T2 là hành vi xâm phạm quyền SHTT theo quy định pháp luật.
+ Kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn và bác phản tố của Bị đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà T1.

IV. Quyết định của Tòa án 

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
- Về nội dung: Không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn (bà Huỳnh Thị T1); Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 15/2025/KDTM-ST ngày 22/08/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.  

 - Về án phí: Miễn toàn bộ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm cho bà Huỳnh Thị T1 do bà là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí theo luật định.

4. Bản án 268/2025/KDTM-ST: Bồi thường chi phí luật sư và ngăn chặn xâm phạm SHTT

I. Nội dung vụ án (Facts & Background)

1. Trình bày của Nguyên đơn (Công ty TNHH T9)

- Công ty T9 là chủ sở hữu hợp pháp các nhãn hiệu liên quan đến "Phở Hùng" theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (GCNĐKNH) số 147103 (ngày 31/05/2010) và số 84459 (ngày 16/07/2007) do Cục Sở hữu trí tuệ cấp.

- Công ty N2 đã sử dụng các dấu hiệu xâm phạm gồm "Phở Ông H1", "PHỞ ÔNG HÙNG CHÍNH HIỆU và hình" trên biển hiệu, fanpage, website và tại chuỗi các cửa hàng/cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên nhiều tỉnh thành mà không trả phí bản quyền hay được sự cho phép của Công ty T9.

- Kết luận giám định (Viện Khoa học SHTT - Bộ KH&CN): Các Kết luận giám định số NN122-15YC/KLGĐ (08/04/2015) và NH400-16YC/KLGĐ (05/10/2016) xác định các dấu hiệu "Phở ông H1", "Phở ông H1 chính hiệu và hình" sử dụng trên fanpage và biển hiệu của Công ty N2 là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của Công ty T9.

Yêu cầu khởi kiện ban đầu:

1. Buộc dừng và chấm dứt sử dụng, tháo gỡ biển hiệu, tài liệu chứa dấu hiệu vi phạm.

2. Buộc xin lỗi công khai 03 kỳ liên tiếp trên báo chí.

3. Buộc bồi thường tổn thất tài sản (tính theo phí chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu giả định qua 60 cơ sở): 11.200.000.000 đồng.

4. Buộc bồi thường chi phí hợp lý để ngăn chặn/khắc phục thiệt hại và chi phí thuê luật sư: 282.680.000 đồng (sau đó cập nhật tính đến 07/04/2021 là 357.030.000 đồng).

Thay đổi/Rút yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm:

- Do các cơ sở vi phạm của bị đơn đã đóng cửa ngừng hoạt động, Công ty T9 rút các yêu cầu: chấm dứt hành vi vi phạm, tháo gỡ biển hiệu, xin lỗi công khai và khoản đòi bồi thường tổn thất tài sản 11.200.000.000 đồng.

- Chỉ giữ lại và yêu cầu giải quyết khoản bồi thường thiệt hại 357.030.000 đồng (gồm chi phí thuê luật sư 82.500.000 đồng và chi phí ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, lập vi bằng, giám định 274.530.000 đồng kèm đầy đủ hóa đơn, chứng từ).

2. Trình bày của Bị đơn (Công ty TNHH N2)

- Vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản tự khai phản đối yêu cầu khởi kiện:

+ Cho rằng nhãn hiệu "Phở ông H1" có bố cục, cách phát âm (3 âm tiết so với 2 âm tiết), màu sắc, phông chữ và hình ảnh (hình người đàn ông đeo kính so với hình cô gái đội nón) hoàn toàn khác biệt với nhãn hiệu được bảo hộ của Công ty T9.

+ Cho rằng kết luận của Viện Khoa học SHTT là không khách quan và việc nguyên đơn yêu cầu bồi thường là không có căn cứ.

III. Nhận định của Tòa án

1. Về tố tụng và việc rút một phần yêu cầu khởi kiện:

  • Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhưng đại diện bị đơn vắng mặt không lý do nên tiến hành xét xử vắng mặt theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

  • Việc Công ty T9 rút một phần yêu cầu khởi kiện (chấm dứt hành vi, xin lỗi công khai, bồi thường 11,2 tỷ đồng) là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với khoản 1 Điều 217 BLTTDS nên Tòa chấp nhận đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này.

2. Về hành vi xâm phạm quyền SHTT:

  • Căn cứ Kết luận giám định số NN122-15YC/KLGĐ và NH400-16YC/KLGĐ của Viện Khoa học SHTT - Bộ KH&CN, các dấu hiệu "Phở ông H1", "Phở ông H1 chính hiệu và hình" gắn trên trang mạng xã hội và biển hiệu quảng cáo của Công ty N2 đã cấu thành yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được bảo hộ theo GCNĐKNH số 147103 của Công ty T9.

3. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại (chi phí luật sư và chi phí ngăn chặn thiệt hại):

  • Số tiền 357.030.000 đồng là các chi phí thực tế, hợp lý mà nguyên đơn đã chi trả (có đầy đủ phụ lục hợp đồng, hóa đơn GTGT, biên lai, sao kê ngân hàng) cho việc thu thập chứng cứ, lập vi bằng, giám định SHTT, làm việc với cơ quan chức năng và chi phí thuê luật sư đại diện.

  • Căn cứ quy định pháp luật SHTT về bồi thường thiệt hại và chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục hành vi xâm phạm, yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận toàn bộ.

IV. Quyết định của Tòa án 

Căn cứ các điều khoản liên quan của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:

1. Về đình chỉ yêu cầu: Đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T9 về việc buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, tháo gỡ dấu hiệu vi phạm, xin lỗi công khai trên báo chí và bồi thường tổn thất tài sản số tiền 11.200.000.000 đồng (do nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu).

2. Về chấp nhận yêu cầu: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện còn lại của Công ty TNHH T9:

- Buộc Công ty TNHH N2 phải bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH T9 số tiền 357.030.000 đồng (gồm chi phí ngăn chặn, khắc phục thiệt hại và chi phí thuê luật sư).

3. Về án phí:

  • Bị đơn (Công ty TNHH N2) phải chịu 17.851.500 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

  • Hoàn trả cho Công ty TNHH T9 toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 81.255.000 đồng (gồm 5.250.000 đồng và 76.005.000 đồng theo các biên lai tạm ứng năm 2016 và 2018).

5. Bản án 47/2026/KDTM-PT: Dịch nghĩa tên gọi và căn cứ xác lập quyền sở hữu nhãn hiệu

I. Nội dung vụ án

1. Trình bày của Nguyên đơn (Công ty TNHH T3)

- Công ty T3 là chủ sở hữu Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (GCNĐKNH) số 326167 cấp ngày 06/08/2019 đối với nhãn hiệu “VIETNAM PEACE BELLA, hình” cho Nhóm 41 (bao gồm dịch vụ tổ chức cuộc thi sắc đẹp).

- Năm 2022, Công ty Q và bà Phạm Thị Kim D tổ chức, quảng bá cuộc thi “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM” trên mạng xã hội. Nguyên đơn cho rằng tên gọi này là bản dịch tương đương/tương tự với nhãn hiệu “VIETNAM PEACE BELLA” đã được bảo hộ của T3, gây nhầm lẫn cho công chúng và xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Điều 129 Luật SHTT.

- Kết luận giám định số NH275–22YC/KLGĐ ngày 20/06/2022 xác định dấu hiệu “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM 2022” gắn trên mẫu đơn đăng ký dự thi là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được bảo hộ theo GCNĐKNH số 326167 của Công ty T3.

- Yêu cầu khởi kiện đối với Công ty Q và bà Phạm Thị Kim D:

(i) Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm và ngừng sử dụng nhãn hiệu “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM” trên mọi cơ sở, phương tiện kinh doanh, truyền thông, quảng cáo.

(ii) Buộc xóa bỏ nhãn hiệu “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM” đã gắn trên các cơ sở, phương tiện kinh doanh/cá nhân trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

(iii) Buộc công khai xin lỗi, cải chính trên 03 số báo liên tiếp (Thanh Niên, Tuổi Trẻ...) và tổ chức họp báo xin lỗi chính thức.

2. Trình bày của Bị đơn (Công ty Cổ phần Q và bà Phạm Thị Kim D)

- Cuộc thi gắn liền với thương hiệu quốc tế “Miss Grand International” được biết đến rộng rãi từ năm 2013 và tại Việt Nam từ năm 2017. Bị đơn sở hữu Giấy chứng nhận quyền tác giả số 3386/2022 đối với Logo “MISS GRAND VIETNAM HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM” và đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hợp lệ tại Cục SHTT.

- Phản bác căn cứ của Nguyên đơn:

+ Công ty T3 chưa được Cục SHTT cấp văn bằng bảo hộ cho cụm từ tiếng Việt “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM”.

+ Cuộc thi của T3 thực tế chỉ được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận tổ chức với tên gọi “Miss Peace Vietnam 2022”.

+ Kết luận giám định của Viện Khoa học SHTT là không chuẩn xác vì cố tình dịch ghép từng từ ngữ khác nhau (“PEACE” và “BELLA”) để kết luận tương tự, trong khi cách phát âm và nhận diện chữ viết giữa hai dấu hiệu hoàn toàn khác biệt.

3. Quyết định của Tòa án Sơ thẩm

- Bản án sơ thẩm số 353/2025/KDTM-ST ngày 26/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh quyết định: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T3.

- Nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

III. Nhận định của Tòa án Phúc thẩm

1. Về phạm vi và quyền sở hữu đối với nhãn hiệu tranh chấp:

- Cả Công ty T3 và Công ty Q đều đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu đối với cụm từ “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM” và mới chỉ dừng lại ở bước được chấp nhận đơn hợp lệ; chưa bên nào được cấp văn bằng bảo hộ chính thức.

- Theo điểm a khoản 3 Điều 6 Luật SHTT, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu phát sinh trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ. Do T3 chưa được cấp văn bằng đối với cụm từ “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM”, công ty chưa phát sinh quyền của chủ sở hữu để ngăn cấm người khác sử dụng.

- Việc UBND thành phố từng cho phép T3 điều chỉnh tên cuộc thi rồi sau đó T3 chủ động đổi tên chính thức thành “Miss Peace Vietnam 2022” không làm phát sinh quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo cơ chế nhãn hiệu nổi tiếng.

- Về việc so sánh yếu tố xâm phạm và Kết luận giám định:

+ Nhãn hiệu được bảo hộ của nguyên đơn là “VIETNAM PEACE BELLA, hình” hoàn toàn khác biệt về mặt chữ viết, hình thức thể hiện và phát âm so với cụm từ “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM”.

+ Việc giám định viên tách từng từ tiếng Anh (“PEACE”) và từ có gốc tiếng Ý/Tây Ban Nha/Hy Lạp (“BELLA”) ra dịch nghĩa rồi suy diễn để kết luận có sự tương tự là không có cơ sở xác đáng.

- Kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của Công ty T3 không có cơ sở để chấp nhận.

IV. Quyết định của Tòa án

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự:

- Về nội dung: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH T3; Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 353/2025/KDTM-ST ngày 26/09/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với Công ty Cổ phần Q và bà Phạm Thị Kim D).

- Về án phí: Công ty TNHH T3 phải chịu 2.000.000 đồng tiền án phí KDTM phúc thẩm (được khấu trừ vào số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai ngày 04/11/2025; đã thi hành xong).

Xem thêm tại: Tổng Hợp Các Bản Án Về Tranh Chấp Sở Hữu Trí Tuệ 

Nội dung bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. DB Legal không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin này cho mục đích kinh doanh. Để được tư vấn chuyên sâu cho từng trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ chúng tôi.

Để biết thêm thông tin chi tiết:

 

Liên hệ

Địa chỉ 1: Tầng 3, Tòa nhà Indochina Riverside Tower, 74 Bạch Đằng, Phường Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam

Địa chỉ 2: 28 Thanh Lương 20, Phường Hòa Xuân, Thành Phố Đà Nẵng, Việt Nam

Hotline 1: (+84) 357 466 579

Hotline 2: (+84) 985 271 242

Điện thoại: (+84) 236.366.4674

Email: contact@dblegal.vn

zalo
whatsapp