Tổng Hợp Bản Án Về Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ (1)
Mục lục:
- 1. Bản án 14/2026/KT-PT: Giá trị pháp lý của vi bằng trong tranh chấp nhãn hiệu
- 2. Bản án 79/2026/KDTM-PT: Tranh chấp kiểu dáng công nghiệp và thủ tục giám định
- 3. Bản án 01/2026/KDTM-PT: Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu gia truyền
- 4. Bản án 268/2025/KDTM-ST: Bồi thường chi phí luật sư và ngăn chặn xâm phạm SHTT
- 5. Bản án 47/2026/KDTM-PT: Dịch nghĩa tên gọi và căn cứ xác lập quyền sở hữu nhãn hiệu
1. Bản án 14/2026/KT-PT: Giá trị pháp lý của vi bằng trong tranh chấp nhãn hiệu
I. Nội dung vụ án
1. Trình bày của Nguyên đơn (Công ty M)
2. Trình bày của Bị đơn (Công ty H)
3. Quyết định của Tòa án Sơ thẩm
- TAND tỉnh Bắc Ninh quyết định không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn (Công ty M).
- Nguyên đơn kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện.
II. Nhận định của Tòa án Phúc thẩm
IV. Quyết định của Tòa án
2. Bản án 79/2026/KDTM-PT: Tranh chấp kiểu dáng công nghiệp và thủ tục giám định
I. Nội dung vụ án
1. Trình bày của Nguyên đơn (Doanh nghiệp tư nhân V)
2. Trình bày của Bị đơn (Công ty G / V1)
3. Quyết định của Tòa án Sơ thẩm
- Buộc Công ty G chấm dứt sử dụng trái phép KDCN "Loa" theo BĐQKDN số 11395 và 12312
. - Buộc tiêu hủy các sản phẩm loa xâm phạm
. - Buộc bồi thường thiệt hại 2.000.000.000 đồng
. - Buộc thanh toán chi phí giám định, thẩm định giá: 19.750.000 đồng
. - Buộc xin lỗi công khai
.
III. Nhận định của Tòa án Phúc thẩm
-
Theo Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Giám định tư pháp, chủ thể quyền SHTT chỉ có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan tố tụng trưng cầu nhưng không được chấp nhận
. Trong vụ án này, Nguyên đơn tự ý đi giám định tại V2 Trí tuệ khi chưa có văn bản yêu cầu Tòa án là không đúng quy định; kết luận này chỉ mang tính tham khảo . -
Ngược lại, Tòa án đã trưng cầu ý kiến chuyên môn từ cơ quan quản lý nhà nước là Cục Sở hữu trí tuệ (Công văn 3760/SHTT-TTKN và Công văn 3102/SHTT-TTKN ngày 07/07/2026)
. Cục SHTT kết luận: Sản phẩm loa của Công ty G có sự khác biệt đáng kể ở phần vành loa (dạng nón cụt cách điệu, đường sinh uốn cong, khác với vành loa nón cụt đường sinh thẳng của V) và màu sắc (xanh xám so với màu cam đậm) .
-
Theo Điều 126 Luật SHTT, Điều 10 Nghị định 105/2006/NĐ-CP và Điều 12 Thông tư 11/2015/TT-BKHCN, hành vi xâm phạm KDCN chỉ xảy ra khi sản phẩm là bản sao hoặc không khác biệt đáng kể so với KDCN được bảo hộ
. -
So sánh 3 đặc điểm tạo dáng cơ bản (hình khối, đường nét, màu sắc), sản phẩm của Công ty G có ít nhất 02 đặc điểm khác biệt đáng kể, đủ tạo ra ấn tượng thị giác tổng thể khác biệt đối với người tiêu dùng
. Do đó, sản phẩm của Công ty G không xâm phạm KDCN của DNTN V .
-
Các BĐQKDN của DNTN V đã hết thời hạn bảo hộ vào ngày 02/05/2022
. Tòa án sơ thẩm tuyên buộc Bị đơn chấm dứt sử dụng và tiêu hủy sản phẩm mà không phân loại thời điểm sản xuất (trước hay sau khi hết hạn bảo hộ) là không chính xác . -
Kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn là không có căn cứ . Kháng cáo của Bị đơn là có cơ sở chấp nhận .
IV. Quyết định của Tòa án
-
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn (Ông Nguyễn Văn H1 - Chủ DNTN V) về việc buộc Công ty G chấm dứt hành vi, tiêu hủy sản phẩm, bồi thường thiệt hại 2.000.000.000 đồng, thanh toán chi phí tố tụng và xin lỗi công khai
.
-
Nguyên đơn (Ông Nguyễn Văn H1) phải chịu 75.395.000 đồng án phí KDTM sơ thẩm (được khấu trừ vào 42.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp; ông H1 phải nộp thêm 33.395.000 đồng)
. -
Nguyên đơn đã nộp đủ 19.750.000 đồng chi phí tố tụng
. -
Bị đơn (Công ty G / V1) không phải chịu án phí KDTM phúc thẩm và được hoàn trả 2.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp
.
3. Bản án 01/2026/KDTM-PT: Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu gia truyền
I. Nội dung vụ án
1. Trình bày của Nguyên đơn (Ông Phùng Văn T2)
2. Trình bày và Phản tố của Bị đơn (Bà Huỳnh Thị T1) & Người liên quan (Ông Phùng Huỳnh B)
3. Ý kiến chuyên môn của Cục Sở hữu trí tuệ
4. Quyết định của Tòa án Sơ thẩm
III. Nhận định của Tòa án Phúc thẩm
IV. Quyết định của Tòa án
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm cho bà Huỳnh Thị T1 do bà là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí theo luật định.
4. Bản án 268/2025/KDTM-ST: Bồi thường chi phí luật sư và ngăn chặn xâm phạm SHTT
I. Nội dung vụ án (Facts & Background)
1. Trình bày của Nguyên đơn (Công ty TNHH T9)
- Công ty T9 là chủ sở hữu hợp pháp các nhãn hiệu liên quan đến "Phở Hùng" theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (GCNĐKNH) số 147103 (ngày 31/05/2010) và số 84459 (ngày 16/07/2007) do Cục Sở hữu trí tuệ cấp
- Công ty N2 đã sử dụng các dấu hiệu xâm phạm gồm "Phở Ông H1", "PHỞ ÔNG HÙNG CHÍNH HIỆU và hình" trên biển hiệu, fanpage, website và tại chuỗi các cửa hàng/cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên nhiều tỉnh thành mà không trả phí bản quyền hay được sự cho phép của Công ty T9
- Kết luận giám định (Viện Khoa học SHTT - Bộ KH&CN): Các Kết luận giám định số NN122-15YC/KLGĐ (08/04/2015) và NH400-16YC/KLGĐ (05/10/2016) xác định các dấu hiệu "Phở ông H1", "Phở ông H1 chính hiệu và hình" sử dụng trên fanpage và biển hiệu của Công ty N2 là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của Công ty T9
Yêu cầu khởi kiện ban đầu:
1. Buộc dừng và chấm dứt sử dụng, tháo gỡ biển hiệu, tài liệu chứa dấu hiệu vi phạm
2. Buộc xin lỗi công khai 03 kỳ liên tiếp trên báo chí
3. Buộc bồi thường tổn thất tài sản (tính theo phí chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu giả định qua 60 cơ sở): 11.200.000.000 đồng
4. Buộc bồi thường chi phí hợp lý để ngăn chặn/khắc phục thiệt hại và chi phí thuê luật sư: 282.680.000 đồng (sau đó cập nhật tính đến 07/04/2021 là 357.030.000 đồng)
Thay đổi/Rút yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm:
- Do các cơ sở vi phạm của bị đơn đã đóng cửa ngừng hoạt động
- Chỉ giữ lại và yêu cầu giải quyết khoản bồi thường thiệt hại 357.030.000 đồng (gồm chi phí thuê luật sư 82.500.000 đồng và chi phí ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, lập vi bằng, giám định 274.530.000 đồng kèm đầy đủ hóa đơn, chứng từ)
2. Trình bày của Bị đơn (Công ty TNHH N2)
- Vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản tự khai phản đối yêu cầu khởi kiện:
+ Cho rằng nhãn hiệu "Phở ông H1" có bố cục, cách phát âm (3 âm tiết so với 2 âm tiết), màu sắc, phông chữ và hình ảnh (hình người đàn ông đeo kính so với hình cô gái đội nón) hoàn toàn khác biệt với nhãn hiệu được bảo hộ của Công ty T9
+ Cho rằng kết luận của Viện Khoa học SHTT là không khách quan và việc nguyên đơn yêu cầu bồi thường là không có căn cứ
III. Nhận định của Tòa án
1. Về tố tụng và việc rút một phần yêu cầu khởi kiện:
-
Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhưng đại diện bị đơn vắng mặt không lý do nên tiến hành xét xử vắng mặt theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
. -
Việc Công ty T9 rút một phần yêu cầu khởi kiện (chấm dứt hành vi, xin lỗi công khai, bồi thường 11,2 tỷ đồng) là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với khoản 1 Điều 217 BLTTDS nên Tòa chấp nhận đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này
.
2. Về hành vi xâm phạm quyền SHTT:
-
Căn cứ Kết luận giám định số NN122-15YC/KLGĐ và NH400-16YC/KLGĐ của Viện Khoa học SHTT - Bộ KH&CN, các dấu hiệu "Phở ông H1", "Phở ông H1 chính hiệu và hình" gắn trên trang mạng xã hội và biển hiệu quảng cáo của Công ty N2 đã cấu thành yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được bảo hộ theo GCNĐKNH số 147103 của Công ty T9
.
3. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại (chi phí luật sư và chi phí ngăn chặn thiệt hại):
-
Số tiền 357.030.000 đồng là các chi phí thực tế, hợp lý mà nguyên đơn đã chi trả (có đầy đủ phụ lục hợp đồng, hóa đơn GTGT, biên lai, sao kê ngân hàng) cho việc thu thập chứng cứ, lập vi bằng, giám định SHTT, làm việc với cơ quan chức năng và chi phí thuê luật sư đại diện
. -
Căn cứ quy định pháp luật SHTT về bồi thường thiệt hại và chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục hành vi xâm phạm, yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận toàn bộ
.
IV. Quyết định của Tòa án
Căn cứ các điều khoản liên quan của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
1. Về đình chỉ yêu cầu: Đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T9 về việc buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, tháo gỡ dấu hiệu vi phạm, xin lỗi công khai trên báo chí và bồi thường tổn thất tài sản số tiền 11.200.000.000 đồng (do nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu)
2. Về chấp nhận yêu cầu: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện còn lại của Công ty TNHH T9:
- Buộc Công ty TNHH N2 phải bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH T9 số tiền 357.030.000 đồng (gồm chi phí ngăn chặn, khắc phục thiệt hại và chi phí thuê luật sư)
3. Về án phí:
-
Bị đơn (Công ty TNHH N2) phải chịu 17.851.500 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm
. -
Hoàn trả cho Công ty TNHH T9 toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 81.255.000 đồng (gồm 5.250.000 đồng và 76.005.000 đồng theo các biên lai tạm ứng năm 2016 và 2018)
.
5. Bản án 47/2026/KDTM-PT: Dịch nghĩa tên gọi và căn cứ xác lập quyền sở hữu nhãn hiệu
I. Nội dung vụ án
1. Trình bày của Nguyên đơn (Công ty TNHH T3)
- Công ty T3 là chủ sở hữu Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (GCNĐKNH) số 326167 cấp ngày 06/08/2019 đối với nhãn hiệu “VIETNAM PEACE BELLA, hình” cho Nhóm 41 (bao gồm dịch vụ tổ chức cuộc thi sắc đẹp)
- Năm 2022, Công ty Q và bà Phạm Thị Kim D tổ chức, quảng bá cuộc thi “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM” trên mạng xã hội
- Kết luận giám định số NH275–22YC/KLGĐ ngày 20/06/2022 xác định dấu hiệu “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM 2022” gắn trên mẫu đơn đăng ký dự thi là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được bảo hộ theo GCNĐKNH số 326167 của Công ty T3
- Yêu cầu khởi kiện đối với Công ty Q và bà Phạm Thị Kim D:
(i) Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm và ngừng sử dụng nhãn hiệu “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM” trên mọi cơ sở, phương tiện kinh doanh, truyền thông, quảng cáo
(ii) Buộc xóa bỏ nhãn hiệu “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM” đã gắn trên các cơ sở, phương tiện kinh doanh/cá nhân trên toàn lãnh thổ Việt Nam
(iii) Buộc công khai xin lỗi, cải chính trên 03 số báo liên tiếp (Thanh Niên, Tuổi Trẻ...) và tổ chức họp báo xin lỗi chính thức
2. Trình bày của Bị đơn (Công ty Cổ phần Q và bà Phạm Thị Kim D)
- Cuộc thi gắn liền với thương hiệu quốc tế “Miss Grand International” được biết đến rộng rãi từ năm 2013 và tại Việt Nam từ năm 2017
- Phản bác căn cứ của Nguyên đơn:
+ Công ty T3 chưa được Cục SHTT cấp văn bằng bảo hộ cho cụm từ tiếng Việt “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM”
+ Cuộc thi của T3 thực tế chỉ được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận tổ chức với tên gọi “Miss Peace Vietnam 2022”
+ Kết luận giám định của Viện Khoa học SHTT là không chuẩn xác vì cố tình dịch ghép từng từ ngữ khác nhau (“PEACE” và “BELLA”) để kết luận tương tự, trong khi cách phát âm và nhận diện chữ viết giữa hai dấu hiệu hoàn toàn khác biệt
3. Quyết định của Tòa án Sơ thẩm
- Bản án sơ thẩm số 353/2025/KDTM-ST ngày 26/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh quyết định: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T3
- Nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm
III. Nhận định của Tòa án Phúc thẩm
1. Về phạm vi và quyền sở hữu đối với nhãn hiệu tranh chấp:
- Cả Công ty T3 và Công ty Q đều đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu đối với cụm từ “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM” và mới chỉ dừng lại ở bước được chấp nhận đơn hợp lệ; chưa bên nào được cấp văn bằng bảo hộ chính thức
- Theo điểm a khoản 3 Điều 6 Luật SHTT, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu phát sinh trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ
- Việc UBND thành phố từng cho phép T3 điều chỉnh tên cuộc thi rồi sau đó T3 chủ động đổi tên chính thức thành “Miss Peace Vietnam 2022” không làm phát sinh quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo cơ chế nhãn hiệu nổi tiếng
- Về việc so sánh yếu tố xâm phạm và Kết luận giám định:
+ Nhãn hiệu được bảo hộ của nguyên đơn là “VIETNAM PEACE BELLA, hình” hoàn toàn khác biệt về mặt chữ viết, hình thức thể hiện và phát âm so với cụm từ “HOA HẬU HÒA BÌNH VIỆT NAM”
+ Việc giám định viên tách từng từ tiếng Anh (“PEACE”) và từ có gốc tiếng Ý/Tây Ban Nha/Hy Lạp (“BELLA”) ra dịch nghĩa rồi suy diễn để kết luận có sự tương tự là không có cơ sở xác đáng
- Kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định pháp luật
IV. Quyết định của Tòa án
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
- Về nội dung: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH T3; Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 353/2025/KDTM-ST ngày 26/09/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với Công ty Cổ phần Q và bà Phạm Thị Kim D)
- Về án phí: Công ty TNHH T3 phải chịu 2.000.000 đồng tiền án phí KDTM phúc thẩm (được khấu trừ vào số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai ngày 04/11/2025; đã thi hành xong)
Xem thêm tại: Tổng Hợp Các Bản Án Về Tranh Chấp Sở Hữu Trí Tuệ
Nội dung bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. DB Legal không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin này cho mục đích kinh doanh. Để được tư vấn chuyên sâu cho từng trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ chúng tôi.
Để biết thêm thông tin chi tiết:
Bài viết liên quan:
- Tổng Hợp Bản Án Về Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ (2)
- Tổng hợp 05 bản án về tranh chấp Hợp đồng phân phối/đại lý (2)
- Tổng hợp 05 bản án về tranh chấp Hợp đồng phân phối/đại lý
- Án Lệ số 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản
- Án Lệ số 82/2025/AL về xác định tài sản chung của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn
- Án Lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty
- Quyết định số 01/2025/QĐPT-PS ngày 07/01/2025 giải quyết đề nghị xem xét lại đối với quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp
- Án Lệ số 14/2017/AL Công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng
- Án Lệ số 39/2020/AL về xác định giao dịch dân sự có điều kiện vô hiệu do điều kiện không thể xảy ra
- Tổng hợp tranh chấp về Hợp đồng cho thuê nhà tại Việt Nam
.png)


