Tổng hợp các bản án về tranh chấp Hợp đồng dịch vụ
Mục lục:
I. Bản Án 253/2025/KDTM-ST: Tranh Chấp Hợp Đồng Dịch Vụ Có Yếu Tố Nước Ngoài & Rủi Ro Từ Thư Xác Nhận Nợ
1. Tóm tắt thông tin vụ án
-
Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Số bản án: 253/2025/KDTM-ST (Tuyên án ngày 11/08/2025).
-
Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ môi giới du lịch có yếu tố nước ngoài.
2. Nguồn gốc tranh chấp và Yêu cầu khởi kiện
-
Quan hệ hợp tác: Từ tháng 11/2019, Công ty O hợp tác với T1 (Việt Nam) và F (Singapore) để cung ứng dịch vụ môi giới khách du lịch vào Việt Nam hưởng hoa hồng. Quan hệ này chấm dứt vào tháng 10/2020 do đại dịch COVID-19.
-
Chứng cứ đòi nợ: Nguyên đơn căn cứ vào thư điện tử ngày 03/11/2020 do ông Thomas W ký phát hành, xác nhận T1 và F cùng nợ Công ty O khoản tiền 249.320,50 USD.
-
Yêu cầu của Nguyên đơn:
-
Yêu cầu Bị đơn (Công ty T1) liên đới thanh toán nợ gốc: 249.320,50 USD.
-
Tiền lãi chậm thanh toán tính đến 24/07/2025: 117.966 USD.
-
Tổng cộng: 367.287,50 USD (tương đương khoảng 9,66 tỷ VNĐ).
-
3. Lập luận của Bị đơn (Công ty T1)
Bị đơn bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện dựa trên các căn cứ pháp lý:
-
Thiếu chứng cứ gốc: Nguyên đơn không cung cấp được hợp đồng dịch vụ ký kết giữa các bên, không có bảng kê chi tiết lượt khách hay biên bản đối chiếu công nợ thực tế.
-
Vượt quá phạm vi ủy quyền: Giấy ủy quyền của T1 cho cá nhân ký xác nhận nợ chỉ bao gồm "giải quyết công việc hàng ngày", không có thẩm quyền cam kết nghĩa vụ tài chính hay nhận nợ.
-
Vi phạm hình thức chứng cứ quốc tế: Thư xác nhận nợ và giấy ủy quyền lập ở nước ngoài không được hợp pháp hóa lãnh sự theo Điều 478 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015.
-
Tư cách chủ thể: Thư nhận nợ do pháp nhân Singapore phát hành, người ký chỉ nhân danh pháp nhân Singapore, không đóng dấu hay đại diện hợp pháp cho Bị đơn tại Việt Nam.
4. Phán quyết và Nhận định của Tòa án
-
Về tính hợp pháp của tài liệu chứng cứ: Tòa án xác định Giấy ủy quyền và Thư xác nhận nợ gửi qua email không được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại Nghị định 111/2011/NĐ-CP và BLTTDS 2015. Nguyên đơn không cung cấp được bản gốc đối chiếu dù Tòa đã tạm ngưng phiên xử để tạo điều kiện thu thập chứng cứ.
-
Về căn cứ phát sinh nghĩa vụ và tính liên đới: Nghĩa vụ dịch vụ phải căn cứ trên kết quả thực hiện thực tế (số lượng khách). Nguyên đơn không chứng minh được số khách chuyển giao cho Bị đơn nhưng lại quy kết toàn bộ trách nhiệm liên đới cho Bị đơn là không có cơ sở theo Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015.
-
Quyết định cuối cùng:
-
Đình chỉ xét xử yêu cầu chi phí pháp lý 3.500 USD do nguyên đơn rút yêu cầu.
-
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc (249.320,50 USD) và lãi chậm trả (117.966 USD).
-
Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm kinh doanh thương mại hơn 117,6 triệu VNĐ.
-
Nguồn bản án tại congbobanan.toaan.gov.vn
Nội dung bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. DB Legal không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin này cho mục đích kinh doanh. Để được tư vấn chuyên sâu cho từng trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ chúng tôi.
Để biết thêm thông tin chi tiết:
Bài viết liên quan:
- Tổng Hợp Bản Án Về Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ (2)
- Tổng Hợp Bản Án Về Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ (1)
- Tổng hợp 05 bản án về tranh chấp Hợp đồng phân phối/đại lý (2)
- Tổng hợp 05 bản án về tranh chấp Hợp đồng phân phối/đại lý
- Án Lệ số 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản
- Án Lệ số 82/2025/AL về xác định tài sản chung của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn
- Án Lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty
- Quyết định số 01/2025/QĐPT-PS ngày 07/01/2025 giải quyết đề nghị xem xét lại đối với quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp
- Án Lệ số 14/2017/AL Công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng
- Án Lệ số 39/2020/AL về xác định giao dịch dân sự có điều kiện vô hiệu do điều kiện không thể xảy ra
.png)


