Tổng Hợp Bản Án Về Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ (2)
Mục lục:
- I. Bản án 08/2025/KDTM-PT: Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu và bài học về thẩm quyền đại diện
- 1. Tóm Tắt Vụ Án (Case Summary)
- 2. Diễn Biến Và Lập Luận Của Các Đương Sự
- 3. Nhận Định Của Tòa Án Cấp Phúc Thẩm
- 4. Quyết Định Của Tòa Án
- II. Bản Án 20/2024/KDTM-ST: Xâm Phạm Nhãn Hiệu Ngành Sữa
- 1. Tóm tắt vụ án
- 2. Diễn biến và lập luận của các đương sự
- 3. Nhận Định Của Tòa Án (Court's Analysis)
- 4. Quyết định của Toà án
- III. Bản Án Phúc Thẩm Số 06/2025/KDTM-PT: Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Đối Với Nhãn Hiệu
- 1. Tóm tắt vụ án (Case Summary)
- 2. Diễn biến và lập luận của các đương sự
- 3. Nhận Định Của Tòa Án
- 4. Quyết định của Tòa án
- IV. Bản Án Phúc Thẩm Số 40/2025/KDTM-PT: Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Về Nhãn Hiệu
I. Bản án 08/2025/KDTM-PT: Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu và bài học về thẩm quyền đại diện
1. Tóm Tắt Vụ Án (Case Summary)
-
Cơ quan xét xử: Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội.
-
Bản án số: 08/2025/KDTM-PT ngày 16/09/2025.
-
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Quốc tế M.
-
Bị đơn: Công ty TNHH N.
-
Đối tượng tranh chấp: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu "O" số 3008/2021/HĐCNQSHNH/NLC-RS ngày 30/08/2021 (Trị giá: 1.200.185.881 đồng).
2. Diễn Biến Và Lập Luận Của Các Đương Sự
Lập luận của Nguyên đơn (Công ty M):
-
Vượt quá thẩm quyền nội bộ: Người ký kết (bà Phan Thị Kim Ch - Tổng Giám đốc thời điểm đó) chưa thông qua HĐQT theo quy định của Điều lệ công ty và vi phạm Thỏa thuận nguyên tắc tách công ty năm 2019.
-
Vi phạm nghĩa vụ thanh toán: Bị đơn (Công ty N) chưa thanh toán tiền chuyển nhượng theo hợp đồng.
-
Yêu cầu: Tuyên hợp đồng vô hiệu, buộc trả lại Giấy chứng nhận ĐKNH "O" và chấm dứt các hành vi khai thác nhãn hiệu.
Lập luận của Bị đơn (Công ty N):
-
Bên thứ ba ngay tình: Bà Ch là người đại diện theo pháp luật hợp pháp được ghi nhận trên ĐKKD và nắm trên 50% cổ phần tại thời điểm ký. Quy định Điều lệ là nội bộ, bên ngoài không có nghĩa vụ phải biết.
-
Hoàn thành nghĩa vụ qua cấn trừ nợ: Hai bên đã có Biên bản đối chiếu cấn trừ công nợ tiền hàng cung cấp thực phẩm (hơn 2 tỷ đồng) ngày 25/05/2021. Số tiền 1.200.185.881 đồng đã được cấn trừ xong khi bàn giao tài liệu nhãn hiệu.
3. Nhận Định Của Tòa Án Cấp Phúc Thẩm
Hiệu lực hợp đồng và bảo vệ bên thứ ba ngay tình
-
Hạn chế quyền đại diện trong Điều lệ công ty chỉ có giá trị nội bộ. Công ty N không biết và không có nghĩa vụ phải biết hạn chế này.
-
Căn cứ Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân phải chịu trách nhiệm về giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện. Hành vi vượt quyền của bà Ch là tranh chấp nội bộ giữa M và bà Ch, không làm vô hiệu giao dịch với bên thứ ba ngay tình.
-
Thỏa thuận tách công ty năm 2019 không làm chấm dứt tư cách chủ sở hữu hợp pháp của Công ty M đối với Giấy chứng nhận nhãn hiệu được cấp ngày 19/07/2021.
Tính hợp pháp của hình thức cấn trừ công nợ
-
Hợp đồng ngày 30/08/2021 kế thừa phụ lục ngày 01/06/2021.
-
Thỏa thuận cấn trừ nghĩa vụ trả tiền vào khoản nợ mua hàng trước đó (biên bản ngày 25/05/2021) là giao dịch thanh toán hợp pháp. Công ty N đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ tài chính.
4. Quyết Định Của Tòa Án
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự:
-
Nội dung: Bác toàn bộ kháng cáo của Công ty M; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2025/KDTM-ST của TAND TP. Hà Nội (Công nhận hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực).
-
Án phí: Công ty M chịu 2.000.000 đồng án phí KDTM phúc thẩm.
-
Hiệu lực: Có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/09/2025.
II. Bản Án 20/2024/KDTM-ST: Xâm Phạm Nhãn Hiệu Ngành Sữa
1. Tóm tắt vụ án
- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
- Bản án số: 20/2024/KDTM-ST ;
- Quan hệ tranh chấp: Xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu & Cạnh tranh không lành mạnh
2. Diễn biến và lập luận của các đương sự
2.1. Căn cứ khởi kiện của Nguyên đơn
Nguyên đơn sở hữu chuỗi nhãn hiệu sữa bột đã được đăng ký bảo hộ độc quyền và sử dụng ổn định tại Việt Nam trên 25 năm. Bị đơn đã sản xuất và phân phối các sản phẩm sữa bột mang dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn trên bao bì và website bán hàng.
-
Căn cứ pháp lý: Điều 129 (Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu) và Điều 130 (Hành vi cạnh tranh không lành mạnh) — Luật Sở hữu trí tuệ.
-
Chứng cứ then chốt:
-
Kết luận giám định từ Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ xác định dấu hiệu vi phạm.
-
Biên bản và quyết định xử phạt vi phạm hành chính từ Quản lý thị trường.
-
Vi bằng ghi nhận hành vi quảng cáo, kinh doanh trên không gian mạng.
-
2.2. Lập luận của Bị đơn: "Sản xuất theo đơn đặt hàng" có miễn trừ trách nhiệm?
Bị đơn giải trình rằng công ty chỉ gia công sản xuất theo mẫu mã và yêu cầu của nhà phân phối, đồng thời thiếu am hiểu về pháp luật SHTT.
Pháp luật Việt Nam không công nhận lý do "gia công theo đơn đặt hàng" là căn cứ miễn trừ trách nhiệm xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Đơn vị sản xuất trực tiếp phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hàng hóa do mình đưa ra thị trường.
3. Nhận Định Của Tòa Án (Court's Analysis)
-
Về tính chất xâm phạm: Nhãn hiệu của Nguyên đơn đã được đăng ký hợp pháp và có uy tín lâu năm. Bị đơn đưa ra thị trường các sản phẩm trùng/tương tự gây nhầm lẫn là hành vi xâm phạm quyền và cạnh tranh không lành mạnh.
-
Về trách nhiệm gia công: Việc sản xuất theo đơn đặt hàng của bên thứ ba không loại trừ trách nhiệm pháp lý của đơn vị sản xuất trực tiếp.
-
Về chi phí tố tụng: Chi phí Thừa phát lại, giám định và thuê luật sư của Nguyên đơn có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp, phù hợp với quy định của Luật SHTT nên được chấp nhận toàn bộ.
-
Về biện pháp xin lỗi công khai: Hành vi vi phạm diễn ra công khai trên thị trường và không gian mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của nhãn hiệu được bảo hộ, do đó yêu cầu đăng báo xin lỗi công khai là có căn cứ pháp lý.
4. Quyết định của Toà án
Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
-
Chấm dứt hành vi vi phạm: Buộc Bị đơn dừng ngay việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm vi phạm; gỡ bỏ toàn bộ thông tin trên môi trường internet.
-
Tiêu hủy tang vật: Thu hồi và tiêu hủy toàn bộ sản phẩm và bao bì mang dấu hiệu xâm phạm.
-
Bồi thường thiệt hại và chi phí pháp lý (281.628.000 VNĐ):
-
Chi phí thuê Luật sư: 200.000.000 VNĐ.
-
Chi phí Thừa phát lại lập vi bằng: 41.028.000 VNĐ.
-
Chi phí giám định chuyên môn: 40.600.000 VNĐ.
-
-
Chế tài công khai xin lỗi: Buộc Bị đơn đăng bài xin lỗi công khai trên 02 báo điện tử uy tín (VnExpress và Dân trí).
III. Bản Án Phúc Thẩm Số 06/2025/KDTM-PT: Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Đối Với Nhãn Hiệu
1. Tóm tắt vụ án (Case Summary)
-
Tên vụ án: Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ (xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ngành hàng kem lạnh).
-
Số bản án: 06/2025/KDTM-PT ngày 10/09/2025 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
-
Bản án bị kháng cáo: Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 07/2025/KDTM-ST ngày 24/02/2025 của TAND TP. Hà Nội.
-
Nội dung tranh chấp: Bị đơn từng bị xử phạt hành chính vào năm 2023 do sử dụng mẫu bao bì cũ ("Kem X") xâm phạm quyền nhãn hiệu của Nguyên đơn. Sau đó, Bị đơn đổi sang mẫu bao bì mới chỉ gắn nhãn hiệu “X” và đã có kết luận giám định không xâm phạm. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thu hồi mẫu mới, bồi thường 300.000.000 đồng và xin lỗi công khai. Tòa sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường (9.200.000 đồng dựa trên hồ sơ xử phạt hành chính năm 2023) và bác các yêu cầu khác. Nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
2. Diễn biến và lập luận của các đương sự
2.1. Quan điểm và yêu cầu của Nguyên đơn
-
Quyền sở hữu hợp pháp: Nguyên đơn được cấp bảo hộ đối với nhãn hiệu “Kem X” cho nhóm 30 từ năm 2017 (hiệu lực đến 22/06/2025).
-
Cáo buộc hành vi xâm phạm: Bị đơn kinh doanh cùng phân khúc kem lạnh, in nhãn hiệu và dấu hiệu gây nhầm lẫn trên vỏ hộp kem. Hành vi này đã bị Thanh tra Sở Công thương và Cục Quản lý thị trường TP. Hà Nội xử phạt hành chính năm 2023, kết hợp với Kết luận giám định số NH353-23YC/KLGĐ của Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ (SHTT) khẳng định có yếu tố xâm phạm.
-
Yêu cầu khởi kiện cụ thể:
-
Buộc Bị đơn chấm dứt việc sản xuất, tiêu thụ và thu hồi toàn bộ sản phẩm kem lạnh gắn dấu hiệu “X” trên thị trường.
-
Buộc Bị đơn bồi thường thiệt hại số tiền 300.000.000 đồng.
-
Buộc Bị đơn xin lỗi, cải chính công khai trên 03 số báo liên tiếp của Báo Trung ương và Báo địa phương Hà Nội.
-
2.2. Quan điểm và lập luận của Bị đơn
-
Bị đơn sở hữu GCNĐKNH số 3414xx cấp năm 2020 cho nhãn hiệu “X” (hiệu lực đến 09/05/2027).
-
Sau khi chấp hành quyết định xử phạt hành chính và đình chỉ hoạt động 02 tháng vào năm 2023, Bị đơn đã đổi hoàn toàn sang mẫu vỏ hộp mới (chỉ mang nhãn hiệu "X"). Mẫu mới này đã được Viện Khoa học SHTT ra Kết luận giám định ngày 21/08/2023 khẳng định không gây nhầm lẫn.
-
Bị đơn khẳng định mẫu bao bì mới là hợp pháp; đối với yêu cầu bồi thường 300 triệu đồng và xin lỗi công khai, Nguyên đơn không cung cấp được bất kỳ chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế nào.
3. Nhận Định Của Tòa Án
Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành đánh giá toàn diện chứng cứ và đưa ra các nhận định pháp lý cụ thể:
-
Về yêu cầu thu hồi và chấm dứt lưu thông mẫu bao bì mới: Căn cứ Kết luận giám định số NH597-23YC/KLGĐ và NH644-23YC/KLGĐ của Viện Khoa học SHTT, không đủ cơ sở để kết luận dấu hiệu “X” trên mẫu vỏ hộp mới của Bị đơn xâm phạm quyền nhãn hiệu của Nguyên đơn. Tòa sơ thẩm bác yêu cầu này là hoàn toàn chính xác.
-
Về yêu cầu bồi thường thiệt hại 300.000.000 đồng:
-
Đối với mẫu vỏ hộp mới: Do không cấu thành hành vi xâm phạm nên không phát sinh nghĩa vụ bồi thường.
-
Đối với hành vi vi phạm cũ trong năm 2023 ("Kem X"): Nguyên đơn không xuất trình được tài liệu, sổ sách kế toán chứng minh mức giảm sút doanh thu/lợi nhuận thực tế. Do đó, việc Tòa sơ thẩm căn cứ vào quyết định xử phạt vi phạm hành chính (giá trị hàng vi phạm 8.800.000 đồng + số lợi bất hợp pháp 400.000 đồng) để buộc Bị đơn bồi thường 9.200.000 đồng là có căn cứ, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đương sự.
-
-
Về yêu cầu buộc xin lỗi, cải chính công khai: Bị đơn đã nghiêm túc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính năm 2023, tạm ngừng sản xuất 02 tháng và chủ động thẩm định mẫu mới trước khi tái sản xuất. Vì vậy, không có cơ sở pháp lý để buộc Bị đơn phải cải chính, xin lỗi công khai trên các phương tiện truyền thông.
4. Quyết định của Tòa án
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:
-
Về nội dung: Bác toàn bộ kháng cáo của Nguyên đơn (Công ty Cổ phần T T 35); Giữ nguyên Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 07/2025/KDTM-ST ngày 24/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
-
Về nghĩa vụ bồi thường: Buộc Bị đơn bồi thường cho Nguyên đơn số tiền 9.200.000 đồng. Bác các yêu cầu khác của Nguyên đơn.
-
Về án phí phúc thẩm: Công ty Cổ phần T T 35 phải chịu 2.000.000 đồng án phí KDTM phúc thẩm (được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp).
-
Hiệu lực thi hành: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (10/09/2025).
IV. Bản Án Phúc Thẩm Số 40/2025/KDTM-PT: Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Về Nhãn Hiệu
I. Thông tin chung
- Tên bản án / Quyết định: Bản án phúc thẩm số 40/2025/KDTM-PT.
- Ngày tuyên án: 25/04/2025 (xét xử ngày 22 và 25/04/2025).
- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Loại tranh chấp / Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu (Tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ngành sản xuất ống nhựa PVC).
II. Nội dung vụ án (Facts & Background)
1. Trình bày của Nguyên đơn (Công ty Cổ phần Nhựa Bình M)
- Quyền sở hữu nhãn hiệu: Công ty Bình M thành lập từ năm 2004, là doanh nghiệp đầu ngành sản xuất vật liệu nhựa, sở hữu các Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (GCNĐKNH) số 180399, 180400, 23374, 73870 đối với nhãn hiệu "Ống Nhựa Bình M", logo "BM Plasco - NHỰA BÌNH MINH".
- Hành vi vi phạm bị cáo buộc: Bị đơn (Công ty Bình Minh V, thành lập cuối năm 2022) sử dụng tên doanh nghiệp và sản xuất sản phẩm ống nhựa PVC in dấu hiệu "BÌNH MINH V", "Nhựa Bình Minh V", logo "BVM Plastic" tương tự gây nhầm lẫn về nguồn gốc xuất xứ với sản phẩm của Nguyên đơn.
- Căn cứ chứng cứ & Kết luận giám định:
+ Các Kết luận giám định số NH249-23YC/KLGĐ, NH827-23YC/KLGĐ, NH826-23YC/KLGĐ của Viện Khoa học SHTT kết luận dấu hiệu "NHỰA BÌNH M" và logo "BVM, hình" gắn trên ống nhựa PVC của Bị đơn là yếu tố xâm phạm quyền đối với các nhãn hiệu của Công ty Bình M.
+ Vụ việc kiểm tra, thu giữ và xử phạt hành chính của Quản lý thị trường tỉnh Long An đối với cửa hàng Quốc Tài kinh doanh ống nhựa của Bị đơn.
- Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn (sau khi rút một phần tại sơ thẩm):
+ Buộc Bị đơn loại bỏ toàn bộ dấu hiệu xâm phạm "Bình M" trên các sản phẩm, phương tiện kinh doanh, website, mạng xã hội.
+ Buộc Bị đơn ngừng sản xuất, kinh doanh các sản phẩm chứa dấu hiệu xâm phạm trên thị trường trực tiếp và trực tuyến.
+ Buộc Bị đơn xin lỗi, cải chính công khai liên tục trên 03 kỳ Báo Công an TP. Hồ Chí Minh.(Đã rút yêu cầu buộc đổi tên doanh nghiệp và cam kết không vi phạm trong tương lai).
2. Trình bày và Phản tố của Bị đơn (Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh V)
- Khẳng định tính hợp pháp: Bị đơn thành lập hợp pháp theo Luật Doanh nghiệp năm 2022. Tên riêng "BÌNH MINH V" gồm 03 tiếng (12 chữ cái), khác biệt hoàn toàn với "BÌNH M" (02 tiếng, 08 chữ cái), không gây nhầm lẫn.
Về nhãn hàng và quyền SHTT:
- Bị đơn được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả cho logo "BVM NHUA BINH MINH V" (loại hình mỹ thuật ứng dụng) và Cục SHTT đã có Quyết định số 53459/QĐ-SHTT ngày 12/07/2023 chấp nhận đơn đăng ký nhãn hiệu hợp lệ đối với Logo "BVM Plastic - ỐNG NHỰA CỦA NGƯỜI VIỆT".
- Nhãn in trên thân ống thể hiện đầy đủ các thành tố theo Nghị định 43/2017/NĐ-CP về nhãn hàng hóa: Logo BVM, tên sản phẩm, tiêu chuẩn, tên đầy đủ và địa chỉ của công ty tại Quận 7, TP.HCM; cách trình bày, màu sắc, font chữ hoàn toàn khác biệt.
- Yêu cầu phản tố của Bị đơn:
Buộc Công ty Bình M xin lỗi trên Báo Công an TP. Hồ Chí Minh vì đã có hành vi gửi công văn, yêu cầu cơ quan quản lý kiểm tra gây cản trở hoạt động kinh doanh bình thường của Bị đơn.(Đã rút yêu cầu buộc chấm dứt hành vi cản trở kinh doanh).
3. Quyết định của Tòa án Sơ thẩm
- Bản án sơ thẩm số 144/2024/KDTM-ST ngày 12/07/2024 của TAND TP. Hồ Chí Minh quyết định: Đình chỉ các phần yêu cầu khởi kiện và phản tố mà các bên đã rút; Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện còn lại của Nguyên đơn (Bình M); Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Bị đơn (Bình Minh V).
- Cả Nguyên đơn và Bị đơn đều kháng cáo bản án sơ thẩm.
III. Nhận định của Tòa án Phúc thẩm (Court's Analysis / Reasoning)
Về phạm vi xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của Bị đơn:
- Kháng cáo của Bị đơn yêu cầu tuyên bố tên công ty và nhãn in trên ống nhựa không xâm phạm nhãn hiệu của Nguyên đơn là nội dung không có trong đơn khởi kiện ban đầu và Bản án sơ thẩm không tuyên giải quyết, nên theo Điều 293 BLTTDS không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm.
- Về việc so sánh nhãn hiệu và dấu hiệu sử dụng:
+ So sánh tổng thể giữa Logo "BVM Plastic - ỐNG NHỰA CỦA NGƯỜI VIỆT" của Bị đơn và Logo "BM Plasco - NHỰA BÌNH M" của Nguyên đơn, cũng như dòng thông tin nhãn in dọc thân ống nhựa: Hai bên có bố cục, kích thước, font chữ, kiểu trình bày và nguồn gốc xuất xứ hàng hóa hoàn toàn khác biệt, không trùng lặp và không đủ yếu tố gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng theo điểm c khoản 1 Điều 129 Luật SHTT.
- Về giá trị chứng cứ của Kết luận giám định và Ý kiến Cục SHTT:
+ Mẫu giám định từ vụ việc Quản lý thị trường tỉnh Long An xử phạt là lô 50 ống nhựa sản xuất thử nghiệm ban đầu và đã được thu hồi, không phản ánh đúng mẫu nhãn hiệu thực tế đang lưu hành và tranh chấp. Do đó, các kết luận giám định do nguyên đơn đơn phương yêu cầu chưa đủ cơ sở vững chắc để làm chứng cứ buộc tội xâm phạm.
+ Tại Công văn số 77499/SHTT-NH ngày 08/08/2024 của Cục Sở hữu trí tuệ đã xác định: Mẫu nhãn hiệu yêu cầu đăng ký của Bị đơn không tương tự đến mức gây nhầm lẫn về bố cục, cách thể hiện đối với các văn bằng bảo hộ nhãn hiệu của Nguyên đơn.
- Kết luận: Tòa sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và bác phản tố của Bị đơn là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
IV. Quyết định của Tòa án (Holding / Disposition)
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
- Về nội dung: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần Nhựa Bình M; Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 144/2024/KDTM-ST ngày 12/07/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
- Đình chỉ các yêu cầu đã rút của các bên.
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Nhựa Bình M về việc buộc loại bỏ dấu hiệu "Bình M", ngừng sản xuất/kinh doanh và xin lỗi công khai trên báo chí.
- Bác yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh V về việc buộc Công ty Bình M xin lỗi trên báo chí.
- Về án phí:
+ Án phí KDTM sơ thẩm: Mỗi bên đương sự phải chịu 3.000.000 đồng (đã được cấn trừ xong vào số tiền tạm ứng đã nộp).
+ Án phí KDTM phúc thẩm: Công ty Cổ phần Nhựa Bình M phải chịu 2.000.000 đồng (được cấn trừ vào tạm ứng án phí đã nộp; đã thi hành xong). Hoàn trả cho Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh V số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
+ Hiệu lực: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (25/04/2025)
Xem thêm tại:
1) Tổng Hợp Các Bản Án Về Tranh Chấp Sở Hữu Trí Tuệ
2) Tổng Hợp Bản Án Về Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ (1)
Nội dung bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. DB Legal không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin này cho mục đích kinh doanh. Để được tư vấn chuyên sâu cho từng trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ chúng tôi.
Để biết thêm thông tin chi tiết:
Bài viết liên quan:
- Tổng hợp các bản án về tranh chấp Hợp đồng dịch vụ
- Tổng Hợp Bản Án Về Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ (1)
- Tổng hợp 05 bản án về tranh chấp Hợp đồng phân phối/đại lý (2)
- Tổng hợp 05 bản án về tranh chấp Hợp đồng phân phối/đại lý
- Án Lệ số 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản
- Án Lệ số 82/2025/AL về xác định tài sản chung của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn
- Án Lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty
- Quyết định số 01/2025/QĐPT-PS ngày 07/01/2025 giải quyết đề nghị xem xét lại đối với quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp
- Án Lệ số 14/2017/AL Công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng
- Án Lệ số 39/2020/AL về xác định giao dịch dân sự có điều kiện vô hiệu do điều kiện không thể xảy ra
.png)


