Banner

NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG GIAO DỊCH ĐỐI VỚI DI SẢN CỦA NGƯỜI ĐÃ CHẾT

Trong bối cảnh kinh tế – xã hội phát triển, các giao dịch dân sự liên quan đến nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản có giá trị lớn ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy không ít giao dịch bị đình trệ hoặc phát sinh tranh chấp do liên quan đến di sản của người đã chết. Đặc biệt, tình trạng vợ hoặc chồng chết để lại tài sản chung nhưng người còn sống gặp khó khăn trong việc giao dịch đối với khối tài sản này diễn ra khá phổ biến. Những khó khăn, vướng mắc nêu trên không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người còn sống mà còn làm phát sinh nhiều tranh chấp thừa kế kéo dài . Việc nhận diện rõ các vướng mắc và nguyên nhân là cơ sở quan trọng để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

1. Cơ sở pháp lý về di sản và tài sản chung của vợ chồng

Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Như vậy, khi một người chết, không phải toàn bộ khối tài sản chung đều trở thành di sản, mà chỉ phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người đã chết mới được xác định là di sản thừa kế.

Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được xác định là tài sản riêng. Khi một bên vợ hoặc chồng chết, việc giải quyết tài sản chung được thực hiện theo Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, theo đó phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Những khó khăn, vướng mắc trong giao dịch đối với di sản

2.1. Khó khăn trong việc xác định phần di sản

Một trong những khó khăn phổ biến nhất là việc xác định phần tài sản của người đã chết trong khối tài sản chung. Trên thực tế, nhiều tài sản được tạo lập từ lâu, giấy tờ pháp lý không đầy đủ, hoặc đứng tên một người nhưng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Điều này dẫn đến tranh cãi trong việc xác định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng, gây cản trở cho việc giao dịch.

2.2. Vướng mắc do chưa khai nhận, phân chia di sản

Việc khai nhận và phân chia di sản thừa kế phải được lập thành văn bản và công chứng theo nguyên tắc thực hiện thủ tục công chứng được quy định tại Điều 55 của Luật Công chứng năm 2024. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều gia đình không thể thực hiện thủ tục này do người thừa kế ở xa, định cư ở nước ngoài, hoặc không thống nhất được ý chí. Hệ quả là tài sản không thể đưa vào giao dịch, dù người còn sống có nhu cầu chính đáng.

2.3. Sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật

Thực tiễn cho thấy có sự khác nhau trong cách hiểu và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan công chứng và cơ quan đăng ký tài sản. Có nơi cho phép người còn sống giao dịch đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, nhưng nhiều nơi lại yêu cầu phải hoàn tất việc phân chia di sản của toàn bộ khối tài sản. Điều này gây khó khăn và tốn kém cho người dân.

2.4. Nguy cơ tranh chấp thừa kế tiềm ẩn

Chỉ cần một người thừa kế không đồng ý hoặc có ý kiến phản đối, các giao dịch liên quan đến tài sản có di sản thường bị từ chối công chứng để tránh rủi ro pháp lý. Điều này khiến quyền định đoạt tài sản của người còn sống bị hạn chế, dù họ là chủ sở hữu hợp pháp đối với một phần tài sản.

3. Hệ quả pháp lý và xã hội

Những vướng mắc trong giao dịch đối với di sản của người đã chết dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực như: Quyền tài sản của người còn sống không được bảo đảm đầy đủ; tài sản không được khai thác hiệu quả; tranh chấp thừa kế gia tăng và kéo dài; gây áp lực cho hệ thống tư pháp.

* Dẫn chứng một số trường hợp cụ thể

- Trường hợp vợ chồng ông K và bà X trú tại phường Th, thành phố Đà Nẵng. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng ông K có tạo lập được 01 ngôi nhà cấp 3. Năm 2017 ông K mất không để lại di chúc, đến năm 2022 vợ và các con ông K có nhu cầu bán ngôi nhà nói trên. Khi dến Văn phòng công chứng thì không giao dịch được, Văn phòng công chứng đề nghị đưa việc này ra Tòa án để chia thừa kế theo pháp luật. Nhưng bà X không đồng ý đưa ra Tòa vì thủ tục ra tòa thì phải có người khởi kiện và người bị kiện, nên gia đình sẽ mất đoàn kết, mất tình cảm.

-  Trường hợp ông N trú tại phường H, thành phố Đà Nẵng, năm 2016 ông N mất có để lại di sản là ngôi nhà 02 tầng (ông N chết không để lại di chúc). Ông N có 05 người con, mỗi người ở mỗi tỉnh thành khác nhau, ngôi nhà nói trên hiện do anh C quản lý ( anh C là một trong 5 người con của ông N). Năm 2024, anh C cho người khác thuê ngôi nhà nói trên. Tuy nhiên thủ tục hợp đồng cho thuê nhà ở và đăng ký tạm trú cho người thuê nhà không thực hiện được vì anh C không phải là chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền hợp pháp đối với ngôi nhà nói trên.

4. Một số kiến nghị, giải pháp

 - Cần có hướng dẫn thống nhất cho phép người còn sống được giao dịch đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, trên cơ sở không xâm phạm quyền lợi của các đồng thừa kế khác.

- Cần đơn giản hóa thủ tục khai nhận và phân chia di sản, đặc biệt trong trường hợp không có tranh chấp.

- Người dân cần chủ động lập di chúc hợp pháp theo quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm hạn chế rủi ro pháp lý cho người ở lại.

5. Kết luận

Giao dịch đối với di sản của người đã chết, đặc biệt là tài sản chung của vợ chồng, là vấn đề pháp lý phức tạp và nhạy cảm. Việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao nhận thức pháp lý của người dân là yếu tố then chốt nhằm bảo đảm quyền tài sản hợp pháp và hạn chế tranh chấp trong thực tiễn.

 

Thông tin có trong bài viết này mang tính chất chung và chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về quy định pháp luật. DB Legal sẽ không chịu trách nhiệm cho bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin cho bất kỳ mục đích kinh doanh nào. Để có tư vấn pháp lý chuyên sâu, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

For more information: 

📞: +84 357 466 579

📧: contact@dblegal.vn

🌐Facebook:  DB Legal Vietnamese Fanpage or DB Legal English Fanpage 

🐦X(Twitter)

💼Linkedin

🎬Youtube

Liên hệ

Địa chỉ 1: Tầng 3, Tòa nhà Indochina Riverside Tower, 74 Bạch Đằng, Phường Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam

Địa chỉ 2: 28 Thanh Lương 20, Phường Hòa Xuân, Thành Phố Đà Nẵng, Việt Nam

Hotline 1: (+84) 357 466 579

Hotline 2: (+84) 985 271 242

Điện thoại: (+84) 236.366.4674

Email: contact@dblegal.vn

zalo
whatsapp