Banner

Thủ Tục Thi Hành Án Dân Sự: Thẩm Quyền & Trình Tự Mới Nhất

Sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại có hiệu lực pháp luật, việc hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ tài sản trên thực tế phụ thuộc hoàn toàn vào giai đoạn thi hành án. Tuy nhiên, không ít cá nhân và tổ chức gặp lúng túng khi đối mặt với các rào cản về thẩm quyền cơ quan thi hành án, người phải thi hành án trốn tránh nghĩa vụ, hoặc thủ tục xác minh tài sản trên thực tế kéo dài. Thủ tục thi hành án dân sự là chuỗi các bước pháp lý do Cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên chủ trì nhằm buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ theo phán quyết đã có hiệu lực. Quy trình này bao gồm từ việc xác định thẩm quyền, tiếp nhận bản án/yêu cầu thi hành án, tống đạt thông báo hợp lệ, dành 10 ngày cho đương sự tự nguyện thi hành, cho đến áp dụng các biện pháp xác minh tài sản—bao gồm cả việc tra cứu trên môi trường số—và xử lý các trường hợp chưa có điều kiện thi hành án. Bài viết dưới đây tổng hợp và hướng dẫn chi tiết 7 nội dung trọng tâm trong quy trình thi hành án dân sự, giúp đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách kịp thời, đúng luật.

I. Thẩm quyền thi hành án

1. Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

a) Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực; bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

b) Bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

c) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

d) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nơi Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã xét xử sơ thẩm có trụ sở;

đ) Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố;

e) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành của Tòa án nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

g) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài được Tòa án nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

h) Phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

i) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh; quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh do cơ quan thi hành án dân sự nơi các cơ quan này có trụ sở thi hành;

k) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;

l) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

m) Quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án nhân dân khu vực nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

n) Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.

2. Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự, Phòng Thi hành án dân sự khu vực tổ chức thi hành các bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này theo phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố.

3. Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

a) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực trên địa bàn;

b) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;

c) Quyết định dân sự của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;

d) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở;

đ) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;

e) Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.

II. Chuyển giao, gửi bản án, quyết định và chủ động ra quyết định thi hành án

1. Việc chuyển giao, gửi bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng. Trường hợp pháp luật không có quy định thì cơ quan ra bản án, quyết định phải chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án thì khi chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự, Tòa án phải gửi kèm theo bản sao biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên quan.

2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án đối với phần bản án, quyết định sau đây:

a) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án;

b) Trả lại tiền, tài sản, vật, giấy tờ cho đương sự;

c) Tịch thu sung quỹ nhà nước, các khoản thu khác cho Nhà nước; tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản;

d) Khoản tiền bồi thường cho tổ chức, cá nhân mà cơ quan thi hành án dân sự đã thu và được tuyên trong bản án, quyết định;

đ) Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;

e) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

g) Quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án;

h) Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.

3. Thời hạn chủ động ra quyết định thi hành án như sau:

a) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 2 Điều này và bản sao biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên quan (nếu có);

b) Ngay sau khi nhận được quyết định quy định tại điểm e khoản 2 Điều này;

c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định quy định tại điểm g khoản 2 Điều này.

III. Yêu cầu và ra quyết định thi hành án theo yêu cầu

1. Đương sự có quyền yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 33 của Luật này. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Cạnh tranh.

Việc yêu cầu thi hành án được thực hiện trên môi trường số hoặc trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua đường bưu điện.

2. Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Không tính thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 38 của Luật này.

3. Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung yêu cầu, các tài liệu kèm theo và thông báo cho người yêu cầu.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án và bản án, quyết định, trừ trường hợp từ chối yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp pháp luật có quy định điều kiện để bản án, quyết định được thi hành thì thời hạn ra quyết định thi hành án là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin về điều kiện đó.

4. Cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án, thông báo cho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định;

b) Bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật này;

c) Cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án;

d) Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án;

đ) Nội dung yêu cầu thi hành án đã có quyết định thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

IV. Thông báo thi hành án, gửi quyết định về thi hành án

1. Quyết định về thi hành án, thông báo, giấy triệu tập về thi hành án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thông báo cho họ để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.

Việc thông báo được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án hoặc trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

2. Quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án phải được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến nội dung quyết định đó để thi hành.

3. Việc thông báo thi hành án được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:

a) Thông báo trên môi trường số hoặc qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo;

b) Niêm yết công khai;

c) Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

4. Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài mà không xác định được địa chỉ, nơi cư trú của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện trên môi trường số.

Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ở Việt Nam mà xác định được địa chỉ của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:

a) Thông báo trên môi trường số theo quy định của pháp luật;

b) Yêu cầu tương trợ tư pháp để tống đạt giấy tờ theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự;

c) Gửi qua đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài cho người được thông báo là công dân Việt Nam;

d) Gửi qua đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của người được thông báo đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với hình thức này;

đ) Thông báo qua văn phòng đại diện, chi nhánh hoặc người đại diện tại Việt Nam của người được thông báo là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài.

V. Tự nguyện và thỏa thuận thi hành án

1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày kể từ ngày người phải thi hành án được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, trừ trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

2. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận về việc thi hành án và phải chịu trách nhiệm về thỏa thuận đó. Khi thỏa thuận về việc thi hành án, các đương sự phải thỏa thuận về phí thi hành án và các chi phí phát sinh (nếu có).

Thỏa thuận phải được lập thành văn bản, thể hiện rõ thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia.

Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án.

Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thỏa thuận thì có quyền yêu cầu thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.

VI. Xác minh điều kiện thi hành án

1. Trong thời hạn 09 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh, trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì tiến hành xác minh ngay.

Người phải thi hành án có trách nhiệm kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Khi xác minh điều kiện thi hành án, Chấp hành viên có trách nhiệm xác minh cụ thể tài sản, thu nhập, các điều kiện khác để thi hành án. Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm thì còn phải xác minh tại cơ quan có chức năng đăng ký tài sản, giao dịch đó.

3. Việc xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện trên môi trường số, trực tiếp hoặc bằng văn bản theo quy định của pháp luật.

Trường hợp xác minh trên môi trường số, Chấp hành viên có quyền khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án khác của người phải thi hành án.

Trường hợp xác minh trực tiếp, Chấp hành viên lập biên bản thể hiện đầy đủ kết quả xác minh, có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh.

Trường hợp xác minh bằng văn bản thì văn bản yêu cầu cung cấp thông tin phải nêu rõ nội dung cần cung cấp và các thông tin cần thiết khác.

4. Khi xác minh điều kiện thi hành án, trong từng trường hợp cụ thể, Chấp hành viên thực hiện như sau:

a) Yêu cầu đương sự cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập và các thông tin khác về điều kiện thi hành án; yêu cầu người phải thi hành án nộp các giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất và các tài liệu khác có liên quan đến điều kiện thi hành án;

b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, bảo quản, lưu giữ, nắm giữ thông tin tài sản, tài khoản, thu nhập và các thông tin khác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cung cấp thông tin, giao nộp hoặc cung cấp giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất; những tài liệu có liên quan đến giải quyết việc thi hành án mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ;

c) Xác minh cụ thể hiện trạng tài sản, thu nhập và các điều kiện khác của người phải thi hành án. Trong từng trường hợp cụ thể, Chấp hành viên có quyền:

Yêu cầu cơ quan chuyên môn hoặc mời, thuê tổ chức, cá nhân có chuyên môn để xem xét hiện trạng tài sản, sổ sách quản lý vốn, tài sản của người phải thi hành án hoặc làm rõ các nội dung cần xác minh.

Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định số cổ phần, phần vốn góp, tài sản số và các tài sản đặc thù khác của người phải thi hành án.

Trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định giá trị tài sản của người phải thi hành án.

Tự mình thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc mở khóa, mở gói; đo đạc tài sản hoặc các biện pháp cần thiết khác để thực hiện việc xác minh.

Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên đề nghị cơ quan chuyên môn thực hiện đo vẽ, xác định ranh giới, mốc giới đối với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp đương sự hoặc những người khác có hành vi cản trở, chống đối việc xác minh, xem xét, kiểm tra hiện trạng tài sản thì Chấp hành viên đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để yêu cầu người đó chấm dứt hành vi cản trở, chống đối hoặc tạm thời rời khỏi nơi có tài sản để thực hiện việc xác minh;

d) Cơ quan thi hành án dân sự có thể xác minh ngoài địa bàn tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở hoặc ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự khác nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành án.

5. Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án; cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện khác của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp Chấp hành viên thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của Chấp hành viên và người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân về kết quả xác minh thì phải xác minh lại. Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân.

6. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm:

a) Chia sẻ dữ liệu theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên;

b) Cung cấp thông tin, tài liệu đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn theo yêu cầu của Chấp hành viên, người được thi hành án theo quy định của pháp luật; ký vào biên bản xác minh trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu; đối với thông tin về tài khoản hoặc trường hợp thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải cung cấp ngay;

c) Cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký tài sản có trách nhiệm cung cấp thông tin về người có quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên.

Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật thì không phải chịu chi phí.

7. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp, chậm cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cá nhân, người đứng đầu của cơ quan, tổ chức đó phải chịu trách nhiệm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

8. Chấp hành viên có thể sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên thực hiện để tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.

VII. Việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:

a) Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;

b) Trường hợp bản án, quyết định tuyên xử lý tài sản nhưng tại thời điểm thi hành án, kết quả xác minh cho thấy tài sản đó không còn hoặc không xác định được nơi có động sản hoặc tài sản đó đã bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;

c) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người được giao cho người khác nuôi dưỡng hoặc chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người được giao nuôi dưỡng;

d) Thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự không có thỏa thuận khác; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ đó không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được hoặc đã thực hiện chuyển giao cho cơ quan ban hành giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật này;

đ) Trường hợp thi hành nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao nhưng người đó bị mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;

e) Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp mà giá trị của tài sản đó nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc bán tài sản quy định tại điểm d khoản 3 Điều 78 của Luật này nhưng sau khi giảm giá mà giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;

g) Trường hợp bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 83 của Luật này mà giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và người được thi hành án không nhận để trừ vào tiền được thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;

h) Tài sản của người phải thi hành án đang bị thu giữ, xử lý để bảo đảm cho khoản nợ xấu theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng mà người phải thi hành án không có thu nhập, tài sản khác để thi hành án.

2. Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên cổng thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án, trừ trường hợp đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều này.

3. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; đối với người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì ít nhất 01 năm một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án.

4. Hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều này mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại theo quy định tại Điều 34 của Luật này khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự thi hành án theo quy định tại Điều 31 của Luật này.

Xem thêm tại:

1) Bản Án, Quyết Định Được Thi Hành Tại Việt Nam

2)  Luật số 106/2025/QH15 của Quốc hội: Luật Thi hành án dân sự

3) Các hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành án dân sự tại Việt Nam

4) Thẩm quyền thi hành án dân sự của Thừa Hành Viên.

 

Liên hệ

Địa chỉ 1: Tầng 3, Tòa nhà Indochina Riverside Tower, 74 Bạch Đằng, Phường Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam

Địa chỉ 2: 28 Thanh Lương 20, Phường Hòa Xuân, Thành Phố Đà Nẵng, Việt Nam

Hotline 1: (+84) 357 466 579

Hotline 2: (+84) 985 271 242

Điện thoại: (+84) 236.366.4674

Email: contact@dblegal.vn

zalo
whatsapp