Tóm tắt Bản án 17/2023/KDTM-PT: Áp dụng Incoterms 2010 trong Tranh chấp hàng hoá quốc tế - Thủy sản
Tóm tắt Bản án 17/2023/KDTM-PT: Áp dụng Incoterms 2010 trong Tranh chấp hàng hoá quốc tế - Thủy sản
Mục lục:
1. Thông tin chung
Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Ngày tuyên án: 26/10/2023.
Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Cá ngừ vây vàng đông lạnh).
2. Nội dung vụ án & Diễn biến tố tụng
Công ty S2 (Nguyên đơn - Mỹ) ký hợp đồng mua cá ngừ từ Công ty D1 (Bị đơn - Việt Nam). Sau khi hàng về kho tại Mỹ, S2 tự lấy mẫu kiểm nghiệm và cho rằng hàng không đạt chất lượng (nhiễm Salmonella, Histamine...), từ đó khởi kiện yêu cầu hủy 03 hợp đồng và đòi bồi thường 421.507,37 USD.
3. Phán quyết Sơ thẩm
(i) Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty S2, I; Tuyên hủy các hợp đồng mua bán hàng hóa đã ký giữa Công ty S2, Inc với Công ty TNHH D1, bao gồm: Hợp đồng mua bán số EXP- HP12/2019 ngày 19/8/2019, Hợp đồng mua bán số EXP-HP16/2019 ngày 01/10/2019 và Hợp đồng mua bán số EXPHP17/2019 ngày 02/10/2019. Buộc Công ty TNHH D1 phải thanh toán cho Công ty S2, Inc số tiền 421.507,37 USD.
(ii) Công ty S2, I có nghĩa vụ chuyền trả các lô hàng số 1, 3, 4 theo Hóa đơn thương mại số EXP-HP12/2019, Hóa đơn thương mại số EXP-SHP 17/2019, Hóa đơn thương mại số EXP-HP20/2019 mà Công ty TNHH D1 đã giao, Công ty TNHH D1 phải chịu các chi phí trả hàng.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và thi hành án
4. Nhận định Toà án cấp phúc thẩm: Áp dụng Incoterms 2010, Tòa án cấp Phúc thẩm đã thay đổi phán quyết dựa trên việc phân tích sâu điều kiện giao hàng CFR
- Chuyển giao rủi ro: Theo Incoterms 2010, tại điều kiện CFR, người bán (D1) hoàn thành nghĩa vụ và chuyển giao rủi ro cho người mua (S2) ngay khi hàng đã xếp lên tàu tại cảng bốc hàng (Việt Nam).
- Trách nhiệm của Người bán: Công ty D1 đã chứng minh được hàng hóa đạt chuẩn tại thời điểm chuyển giao rủi ro thông qua các chứng chỉ sức khỏe của NAFIQUAD và kết quả kiểm nghiệm của CASE tại Việt Nam.
- Trách nhiệm của Người mua: Sau khi hàng lên tàu, mọi rủi ro về hư hỏng hoặc giảm sút chất lượng thuộc về S2. Tòa nhận định S2 không chứng minh được hàng hóa bị lỗi trước khi lên tàu. Việc S2 tự lấy mẫu kiểm nghiệm tại kho riêng sau khi đã nhận hàng không phù hợp với quy trình kiểm tra của FDA và không đủ căn cứ để quy trách nhiệm cho D1 theo quy tắc CFR.
- S2 đã thanh toán đủ 100% tiền hàng, điều này đồng nghĩa với việc hàng hóa thực tế đã vượt qua sự kiểm tra của FDA (vì hợp đồng quy định chỉ thanh toán 50% còn lại sau khi hàng qua cửa khẩu Mỹ). Ngoài ra, Danh sách doanh nghiệp bị FDA cảnh báo không có tên Công ty D1 trong giai đoạn tranh chấp.
- Từ những phân tích trên, có căn cứ để khẳng định Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2022/KDTM-ST ngày 02/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa chỉ căn cứ vào Báo cáo phòng thí nghiệm Kappa ngày 30/01/2020 để cho rằng “chất lượng hàng hóa mà Công ty D1 xuất bán cho Công ty S2 là không đạt chất lượng” từ đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty S4 là không có căn cứ, chưa xem xét toàn diện các cam kết mà các bên đã thỏa thuận và thực hiện tại các Hợp đồng đã ký kết. Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH D1, sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2022/KDTM-ST ngày 02/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của Công ty S2, I về: yêu cầu Tòa án tuyên hủy các hợp đồng mua bán hàng hóa đã ký với Công ty TNHH D1
5. Quyết định của Toà án cấp phúc thẩm
- Chấp nhận kháng cáo của bị đơn (Công ty D1);
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty S2, I về: Yêu cầu Tuyên hủy các hợp đồng mua bán hàng hóa đã ký giữa Công ty S2, Inc với Công ty TNHH D1, bao gồm: Hợp đồng mua bán số EXP- HP12/2019 ngày 19/8/2019, Hợp đồng mua bán số EXP-HP16/2019 ngày 01/10/2019 và Hợp đồng mua bán số EXP-HP17/2019 ngày 02/10/2019; Yêu cầu buộc Công ty TNHH D1 phải thanh toán cho Công ty S2, Inc số tiền 421.507,37 USD.
6. Kết luận
Bản án là lời nhắc nhở quan trọng đối với các doanh nghiệp về việc hiểu và áp dụng đúng Incoterms:
- Điểm chuyển giao rủi ro: Trong điều kiện CFR, người bán hết trách nhiệm ngay khi hàng lên tàu. Mọi hư hỏng phát sinh trong quá trình vận chuyển hoặc tại kho người mua không thể quy trách nhiệm cho người bán nếu không có bằng chứng hàng lỗi từ trước đó.
- Chứng cứ kiểm định: Các chứng chỉ từ cơ quan có thẩm quyền tại cảng bốc hàng (như NAFIQUAD, CASE) là lá chắn pháp lý vững chắc nhất cho người xuất khẩu.
- Quy trình khiếu nại: Người mua cần thực hiện kiểm định theo quy chuẩn quốc tế (như FDA) ngay tại thời điểm nhận hàng để đảm bảo tính khách quan của bằng chứng.
Thông tin có trong bài viết này mang tính chất chung và chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về quy định pháp luật. DB Legal sẽ không chịu trách nhiệm cho bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin cho bất kỳ mục đích kinh doanh nào. Để có tư vấn pháp lý chuyên sâu, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.
For more information:
📞: +84 357 466 579
📧: contact@dblegal.vn
🌐Facebook: DB Legal Vietnamese Fanpage or DB Legal English Fanpage
Bài viết liên quan:
- Phân tích Bản án 09/2024/KDTM-PT: Bài học về Thời hiệu khởi kiện trong tranh chấp thương mại
- Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy phép: Ai chịu trách nhiệm trả nợ?
- Bản án về tranh chấp Hợp đồng thiết kế website
- Tổng hợp các bản án phúc thẩm về tranh chấp lao động
- Tổng hợp các bản án tranh chấp về Hợp đồng mua bán hàng hoá mà đương sự ở nước ngoài
- Tổng hợp các bản án về Hợp đồng đặt cọc
- Tổng hợp bản án về Hôn nhân gia đình có nguyên đơn ở nước ngoài
- Tổng hợp bản án về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do chó nhà gây ra
- Tổng hợp 10 bản án hôn nhân gia đình có tranh chấp về tài sản, nuôi con mà vợ chồng sống chung không đăng ký kết hôn
- Tổng hợp 10 bản án hôn nhân gia đình có tranh chấp xác định cha mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ
.png)


