Quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ trọng tài thương mại, hòa giải trọng tài tại Việt Nam
Việc nhà đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ trọng tài thương mại và hòa giải thương mại tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh đồng thời của các cam kết quốc tế và pháp luật trong nước. Các hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia đã thiết lập những nguyên tắc và giới hạn nhất định về tiếp cận thị trường, trong khi pháp luật Việt Nam quy định cụ thể về điều kiện và hình thức hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ này. Sự đan xen giữa các quy định đặt ra yêu cầu phải xem xét một cách hệ thống mối quan hệ giữa nghĩa vụ mở cửa thị trường và cơ chế quản lý đầu tư trong nước. Vì vậy, việc nghiên cứu các quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ trọng tài thương mại và hòa giải thương mại tại Việt Nam có ý nghĩa thiết thực trong việc làm rõ phạm vi tiếp cận thị trường cũng như các điều kiện pháp lý cần đáp ứng khi triển khai hoạt động.
Mục lục:
1. Căn cứ pháp lý
- Biểu cam kết cụ thể về Thương Mại và Dịch Vụ WTO (GATS);
- AFAS, VJEPA, VKFTA, EVFTA, CPTPP;
- Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 ngày 11 tháng 02 năm 2025;
- Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2010;
- Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2017 về hòa giải thương mại.
2. Định nghĩa dịch vụ trọng tài thương mại, hòa giải trọng tài
Dựa vào Mục 86 Phụ lục về Bản giải thích về các dịch vụ liệt kê trong Hệ thống phân loại sản phẩm chủ yếu của Liên Hợp Quốc (CPC) trong Cẩm nang cam kết thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO, Dịch vụ trọng tài và hòa giải (CPC 86602) bao gồm:
Các dịch vụ hỗ trợ thông qua trọng tài và hòa giải để giải quyết tranh chấp giữa ban quản lý và người lao động, giữa các doanh nghiệp và giữa các cá nhân.
Ngoại trừ: Dịch vụ thay mặt một trong các bên liên để đại diện trong cuộc tranh chấp và dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực quan hệ lao động được liệt kê tại tiểu mục 86190 (các dịch vụ thông tin và tư vấn pháp luật khác), 95110 (dịch vụ do các tổ chức doanh nghiệp và người thuê lao động cung cấp) và mục 95200 (các dịch vụ do công đoàn cung cấp)
3. Quy định hạn chế tiếp cận thị trường
Căn cứ theo điểm d Mục II.1.F (Các dịch vụ kinh doanh khác) thuộc Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam trong WTO, Dịch vụ trọng tài và hòa giải đối với tranh chấp thương mại giữa các thương nhân (CPC 86602**) được cam kết như sau:
- Trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập: Chưa cam kết. Sau đó: không hạn chế.
- Không hạn chế, ngoại trừ trưởng chi nhánh phải là người thường trú tại Việt Nam.
Ngoài ra, căn cứ theo Phụ lục NCM II-VN-23 Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng và duy trì bất kỳ biện pháp nào liên quan đến Dịch vụ trọng tài và hòa giải (CPC 86602), ngoại trừ dịch vụ trọng tài và hòa giải cho tranh chấp thương mại giữa các doanh nghiệp.
4. Quy định pháp luật Việt Nam về dịch vụ trọng tài thương mại, hòa giải trọng tài
4.1. Điều kiện, hình thức hoạt động của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài tại Việt Nam
Căn cứ Điều 33 Nghị định 22/2017/NĐ-CP, Tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài được thành lập và hoạt động hợp pháp tại nước ngoài, tôn trọng Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì được phép hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Nghị định này.
Tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thức sau đây:
(i) Chi nhánh của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài;
(ii) Văn phòng đại diện của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài.
4.2. Điều kiện thành lập Trung tâm trọng tài
Căn cứ khoản 1 Điều 24 Luật Trọng tại thương mại 2010, Trung tâm trọng tài được thành lập khi có ít nhất năm sáng lập viên là công dân Việt Nam có đủ điều kiện là Trọng tài viên quy định tại Điều 20 của Luật này đề nghị thành lập và được Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp Giấy phép thành lập.
Nhìn chung, hoạt động kinh doanh dịch vụ trọng tài thương mại và hòa giải thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được điều chỉnh bởi hệ thống quy định đa tầng, bao gồm các cam kết quốc tế về thương mại dịch vụ và pháp luật chuyên ngành trong nước. Việc xác định đúng phạm vi cam kết mở cửa thị trường, các trường hợp bảo lưu và điều kiện hoạt động của từng loại hình tổ chức có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính hợp pháp của hoạt động đầu tư. Trên cơ sở đó, việc tiếp tục rà soát, hoàn thiện và bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định pháp luật sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài và bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực dịch vụ đặc thù này.
Nội dung bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. DB Legal không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin này cho mục đích kinh doanh. Để được tư vấn chuyên sâu cho từng trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ chúng tôi.
Để biết thêm thông tin chi tiết:
Bài viết liên quan:
- Giải Thể Công Ty Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài: Doanh Nghiệp Cần Hoàn Tất Những Thủ Tục Nào?
- Kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp theo quy định mới năm 2026
- Vu Khống Và Làm Nhục Người Khác Trên Mạng Xã Hội – Khi Nào Bị Xử Lý Hình Sự?
- Thủ tục đăng ký giải thể doanh nghiệp theo quy định pháp luật Việt Nam
- Báo cáo Nghiên cứu Doanh nghiệp (Company Research Report) Tại DB Legal: Giải Pháp Pháp Lý & Thương Mại Toàn Diện
- Hồ sơ, trình tự cấp Giấy phép kinh doanh đồng thời với Giấy phép lập cơ sở bán lẻ theo quy định tại Nghị định số 342/2026/NĐ-CP
- Thay đổi địa chỉ doanh nghiệp sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2026: Doanh nghiệp cần làm gì?
- Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam: Các mô hình giáo dục và điều kiện tiếp cận thị trường cần lưu ý
- Quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ hoa tiêu hàng hải tại Việt Nam
- Những điều cần lưu ý khi nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam dưới góc độ pháp lý
.png)


