Quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ chiếu phim tại Việt Nam
Trong bối cảnh thị trường điện ảnh Việt Nam ngày càng phát triển, hoạt động kinh doanh dịch vụ chiếu phim đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, lĩnh vực này chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật về đầu tư và pháp luật chuyên ngành về điện ảnh. Vì vậy, nhà đầu tư cần nắm rõ các điều kiện tiếp cận thị trường và yêu cầu pháp lý trước khi triển khai hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
Mục lục:
1. Căn cứ pháp lý
- Biểu cam kết cụ thể về Thương Mại và Dịch Vụ WTO (GATS);
- Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 ngày 11 tháng 02 năm 2025;
- Luật Điện ảnh số 05/2022/QH15 ngày 15 tháng 6 năm 2022.
2. Định nghĩa dịch vụ chiếu phim
Dựa vào Mục 96 Phụ lục về Bản giải thích về các dịch vụ liệt kê trong Hệ thống phân loại sản phẩm chủ yếu của Liên Hợp Quốc (CPC) trong Cẩm nang cam kết thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO, Dịch vụ chiếu phim (CPC 96121) được định nghĩa như sau:
96121 - Dịch vụ chiếu phim
Dịch vụ chiếu phim trong các rạp hoặc ngoài trời trong các phòng chiếu tư nhân hoặc các địa điểm chiếu phim khác
3. Quy định hạn chế tiếp cận thị trường
Căn cứ theo điểm b Mục II.2.D (Dịch vụ nghe nhìn) thuộc Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam trong WTO, Dịch vụ chiếu phim (CPC 96121) được cam kết như sau:
“Chỉ dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam đã được phép cung cấp các dịch vụ này tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh.
Các nhà văn hoá, các tụ điểm chiếu phim, câu lạc bộ và hiệp hội chiếu phim công cộng, các đội chiếu bóng lưu động của Việt Nam không được phép tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh hay liên doanh với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.”
Như vậy, nhà đầu tư nước ngoài muốn kinh doanh dịch vụ chiếu phim tại Việt Nam chỉ được kinh doanh dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam. Đồng thời, pháp luật cũng quy định cụ thể các tổ chức, đơn vị không được phép tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh hay liên doanh với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.
4. Phân loại mã ngành kinh tế theo pháp luật Việt Nam
Căn cứ Phụ lục I (Danh mục ngành kinh tế Việt Nam) ban hành kèm theo Quyết định số 36/2025/QĐ-TTg, mã ngành kinh tế (VSIC) tương ứng phù hợp khi đăng ký kinh doanh là mã 5914 – Hoạt động chiếu phim.
Nhóm này gồm: Hoạt động chiếu phim điện ảnh và phim video trong các rạp, ngoài trời hoặc các phương tiện chiếu phim khác.
Nhóm này cũng gồm: Hoạt động chiếu phim trong các liên hoan phim.
59141: Hoạt động chiếu phim cố định
Nhóm này gồm: Hoạt động của các đơn vị chiếu bóng tại các rạp cố định, nơi có nhà chiếu phim, có chỗ ngồi xem, có các tiện nghi phục vụ người xem, có buồng đặt máy cố định, có chương trình hoạt động thường xuyên, có nơi bán vé và thu tiền (rạp dùng cho chiếu phim nhựa).
59142: Hoạt động chiếu phim lưu động
Nhóm này gồm: Hoạt động của các đội chiếu bóng lưu động, đó là đơn vị điện ảnh có người chuyên trách, có kế hoạch, có chương trình chiếu bóng thường xuyên và có đủ phương tiện để chiếu bóng như: Máy chiếu, máy phát điện, thường xuyên chiếu phim phục vụ nhân dân (Đội chiếu bóng làm nhiệm vụ chiếu phim nhựa là chủ yếu).
5. Hợp tác đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ chiếu phim theo quy định pháp luật Việt Nam
Theo khoản 8 Điều 3 Luật Điện ảnh 2022, Phổ biến phim là việc đưa phim đến người xem thông qua các hình thức chiếu phim trong rạp chiếu phim, tại địa điểm chiếu phim công cộng, tại trụ sở cơ quan ngoại giao, cơ sở văn hóa nước ngoài được thành lập tại Việt Nam, trên hệ thống truyền hình, không gian mạng và phương tiện nghe nhìn khác.
Căn cứ khoản 1 Điều 8 Luật Điện ảnh 2022, tổ chức, cá nhân nước ngoài được hợp tác đầu tư với cơ sở điện ảnh Việt Nam để sản xuất, phát hành, phổ biến phim theo quy định của pháp luật về đầu tư dưới hình thức sau đây:
(i) Thành lập tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp, trong đó, phần vốn của nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 51 % vốn điều lệ.
(ii) Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 8 Luật Điện ảnh 2022, Nhà văn hóa, đơn vị chiếu phim, câu lạc bộ và hiệp hội chiếu phim công cộng, đội chiếu phim lưu động của Việt Nam không được phép tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.
Nhìn chung, nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia kinh doanh dịch vụ chiếu phim tại Việt Nam nhưng phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về đầu tư và điện ảnh. Việc rà soát trước các điều kiện về tiếp cận thị trường, cơ cấu đầu tư và hoạt động kinh doanh sẽ giúp nhà đầu tư chủ động tuân thủ pháp luật và hạn chế các rủi ro pháp lý trong quá trình hoạt động.
Nội dung bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. DB Legal không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin này cho mục đích kinh doanh. Để được tư vấn chuyên sâu cho từng trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ chúng tôi.
Để biết thêm thông tin chi tiết:
Bài viết liên quan:
- Điều Kiện, Thủ Tục Cấp Giấy Phép Bán Lẻ Mới Nhất 2026 theo quy định tại Nghị định 342/2026/NĐ-CP
- Những Điểm Mới Về công nhận văn bằng do nước ngoài cấp
- Những Điểm Mới Về Tài Khoản Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Theo Thông Tư 38/2026/TT-NHNN
- Các câu hỏi về chuyển vốn đầu tư nước ngoài tại doanh nghiệp FDI
- Nhà đầu tư nước ngoài cư trú tại Việt Nam, góp vốn theo hình thức nào?
- Nhà đầu tư nước ngoài có bắt buộc mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp (DICA) tại Việt Nam không?
- Quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ phòng khám nha khoa
- Thủ tục chứng nhận Apostille tại Việt Nam mới nhất: Quy định & Hồ sơ
- Điểm mới của Nghị định số 296/2026/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp
- Quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ ghi âm tại Việt Nam
.png)


