Banner

Tổng hợp các bản án về tranh chấp Hợp đồng mua bán căn hộ

Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh chóng, các giao dịch mua bán nhà ở hình thành trong tương lai luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý phức tạp. Hợp đồng mua bán căn hộ bản chất là một hợp đồng song vụ có giá trị kinh tế lớn và thời gian thực hiện kéo dài qua nhiều giai đoạn: từ đặt cọc, huy động vốn, thi công xây dựng đến nghiệm thu và bàn giao thực tế. Do chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thị trường, chuỗi cung ứng, thủ tục pháp lý dự án và các biến cố khách quan, tranh chấp giữa người mua nhà và chủ đầu tư diễn ra ngày càng thường xuyên. Các điểm nóng pháp lý phổ biến nhất thường xoay quanh: Tiến độ bàn giao nhà bị kéo dài và mức tính lãi phạt vi phạm. Khả năng áp dụng quy định về sự kiện bất khả kháng để miễn trừ trách nhiệm. Tiêu chuẩn kỹ thuật nghiệm thu và giới hạn quyền từ chối nhận bàn giao của người mua.

Mục lục:

I. Bản Án Phúc Thẩm Số 449/2025/DS-PT về Tranh Chấp Chậm Bàn Giao Căn Hộ

1. Thông tin tổng quan về vụ tranh chấp

  • Cơ quan xét xử phúc thẩm: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (xét xử công khai ngày 06 và 13/05/2025).

  • Bản án bị kháng cáo: Bản án dân sự sơ thẩm số 921/2024/DS-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Đối tượng tranh chấp: Hợp đồng mua bán Căn hộ số 25.13 thuộc Dự án Lumière Riverside, giá trị hợp đồng là 11.286.420.702 VNĐ.

2. Diễn biến giao kết và nguồn gốc phát sinh công nợ

  • Xác lập quan hệ giao dịch ban đầu: Ngày 29/09/2021, hai bên ký Hợp đồng đặt thuê dài hạn kèm thỏa thuận chuyển đổi sang Hợp đồng mua bán khi đủ điều kiện.

  • Ký kết hợp đồng chính thức: Ngày 22/08/2022, hai bên ký kết Hợp đồng mua bán Căn hộ số 25.13. Nguyên đơn đã hoàn thành thanh toán lũy kế đến 95% giá trị hợp đồng (tương đương 10.781.017.395 VNĐ).

  • Mốc thời gian bàn giao theo hợp đồng:

    • Hạn bàn giao dự kiến: Ngày 30/06/2023.

    • Thông báo điều chỉnh tiến độ: Do ảnh hưởng bởi giãn cách xã hội và biến động chuỗi cung ứng, chủ đầu tư gia hạn ngày bàn giao đến ngày 31/10/2023.

    • Thông báo bàn giao chính thức: Ngày 28/10/2023, chủ đầu tư hoàn tất nghiệm thu và phát hành thông báo mời nhận căn hộ.

  • Thời điểm bàn giao thực tế: Ngày 01/02/2024 (kéo dài thêm 216 ngày tính từ mốc dự kiến ban đầu 30/06/2023). Khoảng thời gian chậm trễ này là nguyên nhân chính khiến nguyên đơn khởi kiện đòi phạt vi phạm hợp đồng.

3. Quan điểm và lập luận của các bên tại Tòa án

Quan điểm của Nguyên đơn 

  • Bị đơn có nghĩa vụ hoàn thành và bàn giao căn hộ vào ngày 30/06/2023 nhưng mãi đến ngày 01/02/2024 mới thực hiện bàn giao thực tế.

  • Khoảng thời gian chậm trễ là 216 ngày. Theo điều khoản phạt vi phạm đã ký kết với mức lãi suất 0,05%/ngày, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thanh toán tổng số tiền phạt là 1.164.349.879 VNĐ.

Quan điểm của Bị đơn (Công ty TNHH P)

  • Về mốc hiệu lực hợp đồng: Bản chất quan hệ giao dịch hình thành liên tục từ Hợp đồng đặt thuê ngày 29/09/2021 chứ không chỉ giới hạn từ ngày ký hợp đồng mua bán chính thức.

  • Về nguyên nhân khách quan: Quá trình thi công bị cản trở trực tiếp bởi sự kiện bất khả kháng (đại dịch Covid-19 kéo theo các đợt giãn cách xã hội nghiêm ngặt, đứt gãy chuỗi cung ứng vật liệu xây dựng và biến động địa chính trị từ xung đột Nga - Ukraine).

  • Về lỗi của bên mua: Chủ đầu tư đã hoàn tất nghiệm thu và mời nhận nhà từ ngày 28/10/2023 (trước mốc gia hạn 31/10/2023). Việc kéo dài đến ngày 01/02/2024 phát sinh từ việc nguyên đơn thanh toán đợt nhận nhà trễ hạn (ngày 13/11/2023) và cố tình trì hoãn ký biên bản vì các lỗi thẩm mỹ nhỏ (trầy xước, dính sơn tường) vốn không thuộc trường hợp được từ chối nhận bàn giao.

4. Phán quyết của Tòa án và Nhận định Pháp lý

Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh tuyên bác toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm dựa trên các nhận định pháp lý then chốt sau:

  • Hiệu lực giao dịch được tính liên tục: Mặc dù hợp đồng mua bán được ký ngày 22/08/2022, nhưng thỏa thuận của hai bên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ ràng buộc từ Hợp đồng đặt thuê ngày 29/09/2021.

  • Đại dịch Covid-19 là sự kiện bất khả kháng: Giai đoạn thi công dự án rơi vào thời kỳ phong tỏa và giãn cách xã hội trên toàn quốc. Căn cứ khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 và điều khoản miễn trách nhiệm trong hợp đồng, thời gian thi công bị gián đoạn khách quan không bị tính để áp dụng chế tài phạt chậm tiến độ.

  • Lỗi thẩm mỹ nhỏ không phải là căn cứ từ chối nhận bàn giao: Các khuyết điểm mang tính thẩm mỹ cục bộ (như vết trầy xước bề mặt hoặc vết sơn tường) không làm mất đi điều kiện an toàn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc công năng sử dụng chính của căn hộ. Các vấn đề này thuộc phạm vi bảo hành công trình, bên mua không có quyền viện dẫn để từ chối nhận nhà.

  • Nghĩa vụ án phí: Nguyên đơn phải gánh chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 46.930.496 VNĐ và án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 VNĐ.

II. Bản án số 48/2022/DS-ST: Bài học pháp lý về tranh chấp hợp đồng thuê căn hộ và quyền lợi của người nước ngoài

1. Thông tin tổng quan về vụ tranh chấp

  • Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng (xét xử sơ thẩm công khai ngày 09/09/2022).

  • Nguyên đơn: Ông K (quốc tịch Nhật Bản; đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị H).

  • Quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

2. Diễn biến giao kết và nguồn gốc phát sinh công nợ

  • Giao dịch ban đầu: Ngày 07/09/2018, Ông K ký Hợp đồng mua bán căn hộ số 20/2018/HĐMBCH-A-F.HOME đối với căn hộ X tại tầng 11, Block A, Chung cư F.Home. Cùng ngày, hai bên ký kết Hợp đồng cho Công ty T thuê lại căn hộ trong thời hạn 10 năm để kinh doanh.

  • Quá trình phát sinh công nợ:

    • Tháng 11/2019, Công ty T chuyển giao quyền quản lý chung cư cho Công ty Z.

    • Ngày 30/11/2019, Công ty T lập Biên bản thanh lý hợp đồng thuê, xác nhận còn nợ Ông K 197.373.324 VNĐ tiền thuê nhà (khoản nợ này tiếp tục được tái xác nhận tại Thông báo số 67/DNF ngày 09/06/2020).

    • Sau đó, Ông K ký hợp đồng cho Công ty Z thuê nhưng đã thanh lý vào tháng 04/2020 (Công ty Z đã thanh toán đầy đủ). Do Công ty T dây dưa không trả khoản nợ 197.373.324 VNĐ, Ông K đã khởi kiện ra Tòa án.

3. Quan điểm và lập luận của các bên tại Tòa án

  • Ý kiến của Nguyên đơn: Ban đầu yêu cầu buộc Công ty T tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết, nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu này. Đồng thời, nguyên đơn bổ sung yêu cầu buộc Công ty T thanh toán toàn bộ nợ gốc (197.373.324 VNĐ) và tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm trong 998 ngày (từ 01/12/2019 đến 25/08/2022) là 53.966.733 VNĐ. Tổng số tiền yêu cầu là 251.340.058 VNĐ.

  • Ý kiến của Bị đơn: Công ty T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, thể hiện thái độ không hợp tác trong quá trình giải quyết tranh chấp.

4. Phán quyết của Tòa án và Nhận định Pháp lý

  • Về tố tụng: Tòa án quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật tố tụng dân sự và chấp nhận việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện để đình chỉ xét xử phần liên quan đến cấp Giấy chứng nhận sở hữu căn hộ.

  • Về tình trạng pháp lý căn hộ của người nước ngoài: Theo xác minh từ Sở Xây dựng và Sở Tài nguyên & Môi trường TP. Đà Nẵng, căn hộ X thuộc diện không được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu cho người nước ngoài.

  • Về nghĩa vụ thanh toán: Tòa án nhận định, dẫu Ông K không phải là chủ sở hữu hợp pháp căn hộ (do vướng quy định hạn chế đối với người nước ngoài), song giao dịch cho thuê căn hộ giữa các bên là hoàn toàn có thật trên thực tế và đã được Công ty T văn bản hóa xác nhận nợ.

  • Quyết định chính thức:

    1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn.

    2. Buộc Công ty cổ phần T phải thanh toán tổng số tiền 251.340.058 VNĐ (gồm 197.373.324 VNĐ nợ gốc và 53.966.733 VNĐ tiền lãi chậm trả theo Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015).

    3. Phân định án phí dân sự sơ thẩm và hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định pháp luật.

III. Bản án số 15/2022/DS-ST: Tuyên bố vô hiệu hợp đồng mua bán căn hộ với người nước ngoài

1. Thông tin tổng quan về vụ tranh chấp

  • Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa (xét xử sơ thẩm công khai ngày 09/09/2022).

  • Đối tượng tranh chấp: Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư thương mại số 21.12/HĐ thuộc Dự án Chung cư Napoleon Castle.

2. Diễn biến giao kết và nguồn gốc phát sinh công nợ

  • Giao dịch và nghĩa vụ đã thực hiện:

    • Ngày 01/11/2017, Ông Lewis Daniel A và Công ty TNHH C ký Hợp đồng mua bán Căn hộ số 12, tầng 21 (diện tích 74,3m²) thuộc Dự án Chung cư Napoleon Castle với tổng giá trị 2.037.107.093 VNĐ.

    • Nguyên đơn đã nhận bàn giao căn hộ và thanh toán cho bị đơn tổng cộng 2.056.267.538 VNĐ (bao gồm: 1.935.252.319 VNĐ tiền nhà đợt 1–8; 83.976.908 VNĐ tiền lãi phạt chậm tiến độ; 37.038.311 VNĐ phí bảo trì).

  • Lý do khởi kiện:

    • Ngày 09/10/2019, Sở Xây dựng tỉnh Khánh Hòa ban hành Công văn số 3654/SXD-QLN yêu cầu Công ty TNHH C chấm dứt việc mua bán và thanh lý hợp đồng với cá nhân nước ngoài do Dự án Chung cư Napoleon Castle chưa được cơ quan có thẩm quyền công bố thuộc khu vực tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép sở hữu nhà ở theo Điều 75, 76 Nghị định 99/2015/NĐ-CP.

    • Do không được quyền sở hữu căn hộ hợp pháp và không đồng ý với các phương án xử lý do bị đơn đưa ra, nguyên đơn đã khởi kiện ra Tòa án.

3. Quan điểm và lập luận của các bên tại Tòa án

  • Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:

    1. Tuyên bố Hợp đồng mua bán căn hộ số 21.12/HĐ ngày 01/11/2017 giữa hai bên là vô hiệu.

    2. Buộc Công ty TNHH C trả lại toàn bộ số tiền đã nhận là 2.056.267.538 VNĐ.

    3. Buộc Công ty TNHH C bồi thường khoản tiền chênh lệch giá căn hộ (tạm tính 170.000.000 VNĐ).

  • Quan điểm của Bị đơn: Công ty TNHH C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, thể hiện sự không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án.

4. Phán quyết của Tòa án và Nhận định Pháp lý

  • Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

  • Về tính vô hiệu của hợp đồng: Công ty TNHH C bán căn hộ cho cá nhân nước ngoài khi dự án chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố thuộc khu vực người nước ngoài được phép sở hữu nhà ở là không có cơ sở pháp lý và vi phạm nghiêm trọng quy định tại Nghị định 99/2015/NĐ-CP.

  • Về trách nhiệm hoàn trả: Bị đơn chưa thể làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cho nguyên đơn như đã cam kết. Việc nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và buộc Công ty TNHH C trả lại số tiền 2.056.267.538 VNĐ là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.

  • Quyết định của Tòa án:

    1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông Lewis Daniel A:

      • Tuyên bố Hợp đồng mua bán căn hộ số 21.12/HĐ ngày 01/11/2017 giữa Ông Lewis Daniel A và Công ty TNHH C vô hiệu.

      • Buộc Công ty TNHH C hoàn trả cho Ông Lewis Daniel A số tiền 2.056.267.538 VNĐ.

    2. Án phí và chi phí tố tụng:

      • Công ty TNHH C phải chịu 73.125.350 VNĐ án phí dân sự sơ thẩm.

      • Hoàn trả cho Ông Lewis Daniel A 4.550.000 VNĐ tiền tạm ứng án phí và buộc Công ty TNHH C thanh toán lại cho nguyên đơn 4.500.000 VNĐ chi phí đo vẽ, định giá.

IV. Bản án phúc thẩm số 332/2026/DS-ST: Bài học pháp lý về tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ do chậm bàn giao và xử lý sự kiện bất khả kháng

1. Thông tin tổng quan về vụ tranh chấp

  • Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (xét xử phúc thẩm công khai ngày 15/09/2026).

  • Bản án bị kháng cáo: Bản án dân sự sơ thẩm số 391/2026/DS-ST ngày 24/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng.

  • Đối tượng tranh chấp: Hợp đồng mua bán Căn hộ số 026/HĐMB/HAGS-JUPITER-218 thuộc Dự án Tổ hợp khách sạn và Căn hộ cao cấp HOIAN GOLDEN SEA (Căn hộ số 218 Tòa Jupiter).

2. Nội dung vụ án và yêu cầu của đương sự

  • Giao dịch và quá trình thực hiện:

    • Ngày 29/10/2019, hai bên ký Hợp đồng mua bán Căn hộ 218 Tòa Jupiter với tổng giá trị 3.451.140.000 VNĐ. Bà M đã thanh toán cho bị đơn 2.377.929.276 VNĐ.

    • Thời hạn bàn giao căn hộ dự kiến theo thỏa thuận là Quý 3 năm 2020 (chậm nhất ngày 30/09/2020). Tuy nhiên, đến thời điểm xét xử sơ thẩm (tháng 06/2026), dự án vẫn thi công dở dang, chưa hoàn thành và chưa bàn giao nhà.

  • Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:

    1. Chấm dứt Hợp đồng mua bán Căn hộ số 026/HĐMB/HAGS-JUPITER-218.

    2. Buộc Công ty Cổ phần Đ trả lại tổng số tiền 3.506.957.000 VNĐ, bao gồm:

      • Tiền gốc đã nộp: 2.377.929.276 VNĐ.

      • Tiền phạt vi phạm hợp đồng (8%): 190.234.342 VNĐ (theo Điều 12.2.b Hợp đồng).

      • Tiền lãi do chậm bàn giao: 938.793.448 VNĐ (tính từ 01/10/2020 đến 24/06/2026 là 2.092 ngày, đã tự nguyện trừ 21 tháng / 651 ngày bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, áp dụng mức lãi suất 10%/năm).

  • Lập luận kháng cáo của Bị đơn (Công ty Cổ phần Đ):

    • Dự án chậm trễ do dịch bệnh COVID-19 bùng phát kèm các đợt giãn cách xã hội.

    • Do thay đổi quy định pháp luật về đất đai khu vực "Biên giới biển", dự án phải thực hiện thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ "đất ở" sang "đất thương mại dịch vụ" và gia hạn Giấy phép xây dựng, dẫn đến chậm trễ thủ tục hành chính. Bị đơn cho rằng đây là lý do khách quan/sự kiện bất khả kháng nên không chấp nhận hủy hợp đồng, không chấp nhận phạt vi phạm và bồi thường.

3. Nhận định của Tòa án cấp Phúc thẩm

  • Về ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19: Tòa án cấp sơ thẩm đã ghi nhận Quyết định số 214/QĐ-UBND ngày 13/01/2026 của UBND TP. Đà Nẵng và trừ đầy đủ 21 tháng (651 ngày) dịch bệnh là sự kiện bất khả kháng khi tính tiền lãi chậm bàn giao. Nguyên đơn cũng đã chấp nhận khấu trừ thời gian này.

  • Về vướng mắc thủ tục hành chính và chuyển đổi đất đai: Các rủi ro về pháp lý, quy hoạch, gia hạn giấy phép và thủ tục tài chính về đất đai thuộc phạm vi trách nhiệm và rủi ro kinh doanh của chủ đầu tư. Việc chậm hoàn thành thủ tục pháp lý nội bộ không phải là sự kiện bất khả kháng theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 để miễn trừ toàn bộ nghĩa vụ bàn giao nhà.

  • Về vi phạm thời hạn bàn giao: Thời gian chậm bàn giao kéo dài gần 06 năm (kể cả đã trừ 21 tháng dịch bệnh), vượt quá xa mốc 90 ngày cho phép tại Điều 12.2.b của Hợp đồng. Do đó, yêu cầu chấm dứt hợp đồng, hoàn trả tiền gốc, phạt 8% vi phạm hợp đồng và trả tiền lãi chậm bàn giao của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ pháp lý.

4. Phán quyết cuối cùng của Tòa án Phúc thẩm

  • Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đ; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 391/2026/DS-ST.

  • Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng mua bán Căn hộ số 026/HĐMB/HAGS-JUPITER-218 kể từ ngày 24/06/2026.

  • Buộc Công ty Cổ phần Đ hoàn trả cho bà Trần Thị M tổng số tiền 3.506.957.000 VNĐ (gồm: tiền gốc 2.377.929.276 VNĐ, tiền phạt vi phạm 190.234.342 VNĐ, tiền lãi chậm bàn giao 938.793.448 VNĐ).

  • Án phí: Công ty Cổ phần Đ phải chịu 102.319.140 VNĐ án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 VNĐ án phí dân sự phúc thẩm.

  • Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (15/09/2026).

V. Bản án phúc thẩm số 114/2025/DS-PT: Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ, hợp đồng thuê quản lý và xử lý thế chấp ngân hàng

1. Thông tin tổng quan về vụ tranh chấp

  • Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định (xét xử phúc thẩm công khai ngày 16/06/2025).

  • Bản án bị kháng cáo: Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 07/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

  • Đối tượng tranh chấp: Hợp đồng mua bán Căn hộ số 25B12A/2018/HĐMBCH-THECOASTALHILL thuộc Dự án Khu đô thị S (The Coastal Hill Quy Nhơn).

2. Nội dung vụ án và phát sinh tranh chấp

  • Giao dịch mua bán & Cho thuê lại căn hộ:

    • Ngày 31/07/2018, ông H ký Hợp đồng mua bán căn hộ số 12A, tầng E, Z (diện tích 40m²) tại dự án với giá 2.095.400.000 VNĐ. Ông H đã thanh toán 1.990.630.000 VNĐ (95% giá trị).

    • Thời hạn bàn giao căn hộ dự kiến là Quý 4/2018, gia hạn tối đa đến ngày 30/09/2019. Tuy nhiên, FLC chậm bàn giao kéo dài.

    • Ngày 08/01/2019, ông H ký Hợp đồng thuê và quản lý tài sản, cho FLC thuê lại căn hộ để kinh doanh với cam kết lợi nhuận tối thiểu 10%/năm. FLC chỉ chi trả tiền thuê đến ngày 30/06/2019 (tổng cộng 171.141.819 VNĐ) rồi ngưng thanh toán.

    • Vay vốn ngân hàng: Để mua căn hộ, vợ chồng ông H vay Ngân hàng PVB số tiền 1.000.000.000 VNĐ (thế chấp bằng quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ). Dư nợ khoản vay tính đến thời điểm xét xử là 1.130.509.301 VNĐ.

  • Yêu cầu của các bên:

    1. Nguyên đơn (Ông H): Đơn phương chấm dứt Hợp đồng mua bán từ ngày 28/09/2020 do FLC chậm bàn giao quá 180 ngày; yêu cầu FLC hoàn trả 1.990.630.000 VNĐ tiền gốc, 152.392.000 VNĐ phạt vi phạm (8%) và 515.627.000 VNĐ tiền lãi chậm bàn giao (tổng cộng 2.658.649.000 VNĐ).

    2. Bị đơn (FLC): Viện dẫn đại dịch COVID-19 và thay đổi chính sách pháp luật về Condotel là sự kiện bất khả kháng nên không chấp nhận trả lãi phạt hay hủy hợp đồng.

    3. FLC Resort (Người liên quan): Đòi ông H phạt vi phạm và bồi thường 369.616.239 VNĐ (gồm hoàn trả tiền thuê đã nhận và phạt 8%) do đơn phương chấm dứt Hợp đồng thuê căn hộ.

    4. Ngân hàng PVB: Yêu cầu buộc vợ chồng ông H trả nợ vay; trường hợp chấm dứt Hợp đồng mua bán thì yêu cầu kê biên, phát mãi quyền tài sản căn hộ để thu hồi nợ.

3. Nhận định của Tòa án cấp Phúc thẩm

  1. Về việc đơn phương chấm dứt Hợp đồng mua bán: Hạn cuối bàn giao căn hộ là ngày 30/09/2019 nhưng FLC chậm bàn giao quá 180 ngày. FLC không cung cấp được văn bản thông báo sự kiện bất khả kháng cho khách hàng trong thời hạn 05 ngày theo thỏa thuận tại Điều 14.3 của Hợp đồng. Do đó, ông H có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo đúng Điều 12.2.2 và Điều 15.1.3 của Hợp đồng.

  2. Về Hợp đồng thuê và quản lý tài sản: Đây là hợp đồng phụ có hiệu lực phụ thuộc vào Hợp đồng mua bán (hợp đồng chính). Khi hợp đồng chính bị chấm dứt thì hợp đồng phụ đương nhiên chấm dứt mà không phải do lỗi của ông H. Do đó, Tòa án bác toàn bộ yêu cầu đòi bồi thường/phạt tiền của FLC.

  3. Về xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng PVB: Căn hộ thực tế vẫn đang thi công dở dang, chưa đưa vào sử dụng và Hợp đồng mua bán đã bị chấm dứt nên căn hộ không còn thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông H. Do đó, Tòa án bác yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của PVB, đồng thời buộc FLC phải chuyển toàn bộ số tiền hoàn trả cho ông H trực tiếp vào tài khoản của ông H tại PVB để ngân hàng thu hồi nợ.

4. Phán quyết cuối cùng của Tòa án Phúc thẩm

  • Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần T6 (FLC) và Ngân hàng TMCP Đ1 (PVB); Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 07/01/2025 của TAND TP. Quy Nhơn:

    1. Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ số 25B12A.

    2. Buộc FLC thanh toán cho ông H và bà L2 tổng số tiền 2.658.649.000 VNĐ (gồm: tiền gốc 1.990.630.000 VNĐ, tiền phạt 8% 152.392.000 VNĐ, tiền lãi chậm bàn giao 515.627.000 VNĐ).

    3. Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê và quản lý tài sản; Bác yêu cầu của FLC đòi ông H hoàn trả tiền thuê và bồi thường.

    4. Buộc FLC chuyển trực tiếp số tiền trên vào tài khoản của ông H tại PVB để ngân hàng thu hồi khoản nợ vay 1.130.509.301 VNĐ.

  • Án phí phúc thẩm: PVB và FLC mỗi bên phải chịu 300.000 VNĐ.

  • Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (16/06/2025).

 

Nội dung bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. DB Legal không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin này cho mục đích kinh doanh. Để được tư vấn chuyên sâu cho từng trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ chúng tôi.

Để biết thêm thông tin chi tiết:

 

Liên hệ

Địa chỉ 1: Tầng 3, Tòa nhà Indochina Riverside Tower, 74 Bạch Đằng, Phường Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam

Địa chỉ 2: 28 Thanh Lương 20, Phường Hòa Xuân, Thành Phố Đà Nẵng, Việt Nam

Hotline 1: (+84) 357 466 579

Hotline 2: (+84) 985 271 242

Điện thoại: (+84) 236.366.4674

Email: contact@dblegal.vn

zalo
whatsapp