Banner

Thủ Tục Ly Hôn Có Yếu Tố Nước Ngoài Khi Không Rõ Địa Chỉ Của Vợ/Chồng

Tôi là A là công dân Pháp, có kết hôn với công dân Việt Nam vào năm 2015, nhưng chúng tôi đã ly thân từ năm 2018, hiện tại, tôi không biết người vợ này đang ở đâu? Tôi có thể nộp hồ sơ xin ly hôn tại Việt Nam được không?

Kính gửi ông A,

Cảm ơn ông đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến DB Legal. Liên quan đến trường hợp của ông — một công dân Pháp muốn ly hôn với công dân Việt Nam nhưng đã mất liên lạc từ năm 2018 — chúng tôi xin tư vấn các quy định pháp luật hiện hành như sau:

1. Căn cứ về thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam (có yếu tố nước ngoài)

Theo điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam.

2. Căn cứ về cấp Tòa án giải quyết

Theo khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với các tranh chấp có đương sự ở nước ngoài.

3. Căn cứ về việc lựa chọn Tòa án theo lãnh thổ khi không rõ địa chỉ

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết.

4. Căn cứ về việc kê khai địa chỉ người bị kiện trong đơn

- Theo khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, địa chỉ "nơi cư trú, làm việc cuối cùng" của người bị kiện là địa chỉ người bị kiện đã từng cư trú, làm việc mà người khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh.

- Trường hợp Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới của bị đơn nhưng nguyên đơn không cung cấp được thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới của bị đơn theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn thì Tòa án sẽ đình chỉ việc giải quyết vụ án. Khi đình chỉ giải quyết vụ án, Tòa án sẽ giải thích cho người khởi kiện biết quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đương sự vắng mặt tại nơi cư trú hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố đương sự mất tích.

5. Căn cứ về việc yêu cầu tìm kiếm người vắng mặt hoặc tuyên bố mất tích

- Về yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt: Căn cứ khoản 1 Điều 381 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú khi người đó biệt tích 06 tháng liền trở lên.

- Về yêu cầu tuyên bố mất tích: Căn cứ khoản 2 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm. Trường hợp trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó kèm theo.

 

Nội dung bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. DB Legal không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ việc sử dụng hoặc áp dụng thông tin này cho mục đích kinh doanh. Để được tư vấn chuyên sâu cho từng trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ chúng tôi.

Để biết thêm thông tin chi tiết:

 

Liên hệ

Địa chỉ 1: Tầng 3, Tòa nhà Indochina Riverside Tower, 74 Bạch Đằng, Phường Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam

Địa chỉ 2: 28 Thanh Lương 20, Phường Hòa Xuân, Thành Phố Đà Nẵng, Việt Nam

Hotline 1: (+84) 357 466 579

Hotline 2: (+84) 985 271 242

Điện thoại: (+84) 236.366.4674

Email: contact@dblegal.vn

zalo
whatsapp